Biện pháp bảo đảm hoạt động cho vay là gì? Khái niệm hoạt động cho vay

Khái niệm thực hiện các biện pháp bảo đảm trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại là gì? Nội dung chia sẻ chính là những khái niệm quan trọng của hoạt đông cho vay của ngân hàng, ngoài ra còn rất nhiều đề tài luận văn thạc sĩ về hoạt động cho vay, các bạn có thể tham khảo tại đây.

Biện pháp bảo đảm theo nghĩa rộng là tất cả các biện pháp kinh tế, kỹ thuật, pháp lý để bảo đảm cho một công việc, nghĩa vụ có thể được thực hiện. Các biện pháp bảo đảm mang tính kinh tế, kỹ thuật có thể hiểu là các tính toán, đánh giá, hỗ trợ kỹ thuật, phương tiện, bảo đảm nguồn lực…để dự án, phương án kinh doanh có thể diến ra, thực thi được trên thực tế.

Đề cương giới thiệu BLDS 2015 của Bộ Tư pháp, trang 6: quan điểm về biện pháp bảo vệ là: “Tạo cơ chế pháp lý hữu hiệu để công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của các cá nhân, pháp nhân, đặc biệt là trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của bên yếu thế, bên thiện chí trong quan hệ dân sự; hạn chế đến mức tối đa sự can thiệp của cơ quan công quyền vào việc xác lập, thay đổi, chấm dứt các quan hệ dân sự, tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực xã hội, bảo đảm sự thông thoáng, ổn định trong giao dịch dân sự

Tại Điều 318 BLDS 2005: Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự gồm:

  • a) Cầm cố tài sản;
  • b) Thế chấp tài sản;
  • c) Ðặt cọc;
  • d) Ký cược;
  • đ) Ký quỹ;
  • e) Bảo lãnh;
  • g) Tín chấ

BLDS 2015 có nhiều nội dung đổi mới so với Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005), trong đó một vấn đề đáng chú ý và có tác động lớn tới các hoạt động ngân hàng đó là nội dung về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ: Điều 292 BLDS 2015 quy định 9 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ lần lượt bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp và cầm giữ tài sản.

Theo đó, có thể phân loại các nhóm biện pháp bảo đảm thành 03 nhóm:

  • + Nhóm biện pháp bảo đảm được xác lập theo thỏa thuận và có TSBĐ: cầm cố tài sản; thế chấp tài sản; đặt cọc; ký cược; ký quỹ; bảo lưu quyền sở hữu;
  • + Nhóm biện pháp bảo đảm được xác lập theo thỏa thuận và không có TSBĐ bao gồm: bảo lãnh; tín chấp;
  • + Nhóm biện pháp bảo đảm được xác lập theo quy định của luật, không dựa trên thỏa thuận: cầm giữ tài sản.

BLDS năm 2015 đã đề cập tới việc cầm cố tài sản là bất động sản. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở quy định này của Luật thì thực tế sẽ rất khó thực hiện. Bởi, điều này mâu thuẫn với Luật Đất đai năm 2013 (chỉ đề cập đến thế chấp quyền sử dụng đất, không nhắc đến cầm cố quyền sử dụng đất); Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 (chỉ đề cập đến thế chấp bất động sản, không nhắc đến cầm cố bất động sản), Luật Nhà ở năm 2014 (chỉ để cập đến thế chấp nhà ở, không nhắc đến cầm cố nhà ở). Do đó, để thực hiện được quy định mới này của BLDS năm 2015, các tổ chức tín dụng cần căn cứ trên các hướng dẫn cụ thể thực hiện BLDS 2015 như Nghị định 102/2017/NÐ-CP về đăng ký biện pháp bảo đảm; Thông tư 08/2018/TT-BTP hướng dẫn về đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm, hợp đồng và trao đổi thông tin về đăng ký biện pháp bảo đảm.

Có thể nói, các biện pháp bảo đảm xuất hiện trong các giao dịch bảo đảm xuất phát từ nhu cầu thực tế, có vai trò thúc đẩy giao lưu dân sự, thương mại phát triển có trật tự, góp phần hạn chế tranh chấp xảy ra, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, từ đó tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế – xã hội. Ở Việt Nam, việc áp dụng các biện pháp bảo đảm trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng cũng mới được thực hiện trong thời gian không lâu. Bắt đầu từ năm 1989, khi hệ thống ngân hàng của Việt Nam chuyển sang hoạt động mô hình hai cấp – hoạt động kinh doanh,có sự đa dạng hóa về sở hữu, thành phần kinh tế thì hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng bắt đầu được áp dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản: thế chấp, cầm cố, bảo lãnh. Việc áp dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản khi thực hiện cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng dần được luật hóa và được ghi nhận trong Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 đến nay đã là Luật các tổ chức tín dụng năm 2017, theo đó việc cho vay của tổ chức tín dụng bắt buộc phải có biện pháp bảo đảm. Đây là vấn đề có tính lịch sử kinh tế, xã hội khi nền kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu vay của cá nhân, tổ chức tăng cao và ngày càng có nhiều ngân hàng với các chính sách cho vay khác nhau, vấn đề quản lý của hệ thống ngân hàng còn nhiều bất cập, có sự đan xen sở hữu trong hoạt động của hệ thống tổ chức tín dụng.

Xét về bản chất, các giao dịch trong hoạt động ngân hàng cũng là một loại giao dịch dân sự nên các biện pháp bảo đảm trong hoạt động của các tổ chức này cũng giống như các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự nói chung. Qua các quy định của pháp luật có thể tạm hiểu: Các biện pháp bảo đảm trong hoạt động của các ngân hàng thương mại là việc thỏa thuận giữa các bên, qua đó đặt ra các biện pháp mang tính chất dự phòng để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ, đồng thời ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả tiêu cực do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ gây ra.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chat Zalo
Chat Facebook
0932091562