Các Chỉ Tiêu Đánh Giá Hiệu Quả Kinh Tế Là Gì?

KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Khái niệm, ý nghĩa và bản chất của hiệu quả kinh tế là gì? Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế là gì? và Các chỉ tiêu phản ánh về quy mô, cơ cấu và tốc độ phát triển cao su tiểu điền là gì?

Ngoài ra, các bạn học viên đang gặp khó khăn trong việc làm bài luận văn thạc sĩ của mình, mà muốn tham khảo giá viết luận văn thạc sĩ, thì có thể tham khảo tại đây nhé.

====>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ

1. Khái niệm, ý nghĩa và bản chất của hiệu quả kinh tế là gì?

Hiệu quả kinh tế – một phạm trù có ý nghĩa rất quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn, là chỉ tiêu hàng đầu đánh giá chất lượng hoạt động kinh tế – xã hội. Mọi lĩnh vực sản xuất đều lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chuẩn đánh giá hoạt động sản xuất của mình bởi với họ, hiệu quả kinh tế là thước đo chính xác và khách quan nhất.

Tìm hiểu khái niệm hiệu quả kinh tế ta sẽ hiểu được vì sao hiệu quả kinh tế lại mang một tầm quan trọng đến thế.

Hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp, có rất nhiều tác giả đã đưa ra quan điểm thống nhất với nhau, đó là các tác giả Farrell(1957), Schultz(1964), Rizzo( 1979) và Ellis(1993). Các tác giả cho rằng: “Hiệu quả kinh tế được xác định bởi việc so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra (các nguồn nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn…) để đạt được kết quả đó”. Các tác giả cho rằng, cần phân biệt rõ 3 khái niệm về hiệu quả: Hiệu quả kỹ thuật, Hiệu quả phân bổ các nguồn lực và Hiệu quả kinh tế.

  • Hiệu quả kỹ thuật: là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị chi phí hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng. Hiệu quả kỹ thuật của việc sử dụng các nguồn lực thể hiện thông qua các mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra, giữa các đầu vào với nhau và giữa các loại sản phẩm.
  • Hiệu quả phân bổ: là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố sản phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực. Thực chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật có tính đến yếu tố về giá đầu vào và giá của đầu ra, vì thế, nó còn được gọi là hiệu quả giá. Xác định hiệu quả này giống như việc xác định các điều kiện về lý thuyết biên để tối đa hóa lợi nhuận, điều này có nghĩa là giá trị biên của sản phẩm phải bằng giá trị chi phí biên của nguồn lực sử dụng vào sản xuất.
  • Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế trong đó đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Tức là cả 2 yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực sản xuất đạt được. Nếu đạt được một trong hai yếu tố hiệu quả kỹ thuật hay hiệu quả phân phối thì mới là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ để đạt hiệu quả kinh tế. Chỉ khi nào nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả hai chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế.

Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể hiểu: “Hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và tiền vốn) nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định”.

Bản chất của hiệu quả kinh tế là gì?

Hiệu quả kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế đạt được với chi phí kinh tế bỏ ra để đạt được kết quả đó. Quan hệ so sánhở đây là quan hệ so sánh tương đối. Quan hệ so sánh tuyệt đối chỉ có ý nghĩa trong phạm vi hạn chế.

Tóm lại, nâng cao hiệu quả kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng đối với yêu cầu tăng trưởng và phát triển kinh tế nói riêng và phát triển xã hội nói chung. Để đạt được mục tiêu đó cần tận dụng và tiết kiệm các nguồn lực hiện có; thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ, tiến nhanh vào công nghiệp hóa hiện đại hóa; phát triển kinh tế với tốc độ nhanh; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động.

Các phương pháp xác định hiệu quả kinh tế

Dạng thuận : Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra:

Trong đó: H: Hiệu quả kinh tế (lần)

  • Kết quả thu được (nghìn đồng, triệu đồng…)
  • Chi phí bỏ ra (nghìn đồng, triệu đồng…)

Công thức này cho biết nếu bỏ ra một đơn vị chi phí sẽ tạo ra được bao nhiêu đơn vị kết quả, nó phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực.

Dạng nghịch : Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu được.

Trong đó: h: Hiệu quả kinh tế (lần)

  • Kết quả thu được (nghìn đồng, triệu đồng…)
  • Chi phí bỏ ra (nghìn đồng, triệu đồng…)

Công thức này cho biết để đạt được một đơn vị kết quả cần tiêu tốn bao nhiêu đơn vị chi phí.

Hai loại chỉ tiêu này mang ý nghĩa khác nhau nhưng có mối liên hệ mật thiết với nhau, cùng được sử dụng để phản ánh hiệu quả kinh tế. Các chỉ tiêu trên còn được gọi là chỉ tiêu toàn phần.

2. Hệ thống các chỉ tiêu:

Các chỉ tiêu ngắn hạn

Các chỉ tiêu phản ánh về quy mô, cơ cấu và tốc độ phát triển cao su tiểu điền.

  • Diện tích, năng suất mủ cao su
  •  Số hộ trồng cao su tiểu điền ;
  • Cơ cấu diện tích

Các chỉ tiêu về yếu tố sản xuất chủ yếu của các hộ cao su tiểu điền

  • Đặc điểm của chủ hộ: tuổi, giới tính, trình độ văn hóa,
  • Quy mô đất đai: tổng diện tích đất/hộ; diện tích đất trồng cao su/hộ
  • Quy mô lao động: số lao động bình quân/hộ
  • Quy mô vốn sản xuất
  • Mật độ cây cao su đưa vào khai thác

Các chỉ tiêu phản ánh mức đầu tư và chi phí

  • Chi phí đầu tư phân bón/ha
  • Chi phí công lao động/ha
  • Vật tư khai thác đầu tư/ha

Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất của các hộ

Để đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh của các hộ cao su tiểu điền, chúng tôi sử dụng các chỉ tiêu:

  • Sản lượng mủ khai thác bình quân ha
  • Năng suất bình quân ha
  • Tổng giá trị sản xuất bình quân một ha cao su (GO): Tổng giá trị sản xuất bình quân một ha cao su là giá trị sản phẩm sản xuất trong năm của một ha tính theo giá thị trường địa phương.

GO = Qi*Pi

Trong đó: GO: Doanh thu thu được trên một ha diện tích cây cao su (1000đ)

Qi: Sản lượng mủ của một ha cao su (kg)

Pi: Giá bán 1 kg mủ (1000đ)

Thu nhập hỗn hợp (MI): được tính bằng tổng giá trị sản xuất (GO) trừ đi chi phí sản xuất chi trả bằng tiền của hộ và khấu hao TSCĐ (C): MI = GO – Cbt – De

Chi phí sản xuất chi trả bằng tiền (Cbt): là khoản chi phí bằng tiền chi trả trực tiếp (Ctt) để tiến hành sản xuất cao su cộng (+) với chi phí trả lãi vay ngân hàng (i), được tính bằng công thức: Cbt = Ctt + i

Chi phí sản xuất trực tiếp (Ctt): là toàn bộ chi phí bằng tiền mặt của hộ để tiến hành sản xuất cao su như mua vật tư, thuê lao động, thuê các dịch vụ khác. Các khoản chi phí này thường được tính theo giá thị trường.

Chi phí tự có (Ch): là các khoản chi phí mà hộ gia đình không phải dùng tiền mặt để thanh toán và gia đình có khả năng cung cấp như lao động gia đình, vật tư gia đình tự sản xuất… Thông thường các khoản chi phí này được tính theo “chi phí cơ hội”.

Chi phí sản xuất (C): là toàn bộ chi phí bằng tiền của hộ để tiến hành sản xuất cao su, bao gồm chi phí sản xuất chi trả bằng tiền (Cbt) cộng (+) với khấu hao TSCĐ (De) cộng (+) với chi phí tự có (Ch).

C = Cbt + De + Ch

Lợi nhuận kinh tế ròng (NB): là phần còn lại của tổng giá trị sản xuất (GO) sau khi trừ đi chi phí sản xuất chi trả bằng tiền (Cbt); khấu hao vườn cây cao su (De); các khoản vật tư tự sản xuất và lao động gia đình (Ch). Hay lợi nhuận kinh tế ròng là phần còn lại của thu nhập hỗn hợp (MI) sau khi trừ đi các khoản vật tư tự sản xuất và lao động gia đình (Ch).

NB = GO – Cbt – De – Ch

NB = MI – Ch

3. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả

  • MI/IC: Chỉ tiêu này cho biết cư một đồng chi phí trực tiếp bỏ ra trong năm mang lại bao nhiêu đồng thu nhập hỗn hợp
  •  GO/IC: Hiệu quả sử dụng chi phí trung gian tính theo GO
  •  GO/LĐ: Hiệu quả sử dụng lao động tính theo GO
  • Giá trị hiện tại ròng NPV:

Giá trị hiện tại ròng là tổng giá trị hiện tại của dòng tiền thu vào hàng năm trừ đi tổng giá trị hiện tại của các khoản chi phí đầu tư. Dòng tiền hàng năm là lợi nhuận ròng được tạo ra trong chu kỳ đầu tư. Nếu giá trị hiện tại của các nguồn thu vượt quá giá trị hiện tại của các chi phí thì đầu tư có hiệu quả và ngược lại. Do đó, NPV là một trong những công cụ hữu dụng nhất để đánh giá giá trị đầu tư. Việc tính toán NPV gồm ba bước:

Bước 1: Xác định chu kỳ vòng đời của đầu tư và giá trị của các dòng tiền tương lai.

Bước 2: Xác định lãi suất chiết khấu hoặc tỷ suất lợi nhuận mong đợi.

Trong đó:

  • Số năm tồn tại của cây cao su
  • Thứ tự năm

Bt: Giá trị thu nhập của cây cao su năm thứ t

Ct: Vốn đầu tư của cây cao su năm thứ t

r: Lãi suất tính toán

Nếu NPV >0 thì việc đầu tư có hiệu quả và khả thi, NPV càng lớn thì tính sinh lời càng cao. Ngược lại nếu NPV<0 về phương diện tài chính, đầu tư không có kết quả, không nên thực hiện.

  • Hệ số hoàn vốn nội bộ IRR: là mức lãi suất tính toán mà ứng với mức lãi suất này thì việc trồng cao su hoàn toàn không thu được lợi nhuận, các khoản thu nhập vừa đủ để bù đắp các khoản chi phí. Hệ số IRR được xác định bằng công thức:

Tỷ suất chiết khấu được chọnTrong đó:

  • Số năm hoạt động của đời dự án

* Tỷ suất lợi ích trên chi phí B/C: được xác định bằng tỷ số giữa khoản thu nhập với khoản chi phí trong suốt thời kỳ trồng cao su theo giá hiện tại.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!
Chat Zalo
Chat Facebook
0932091562