Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng

Rate this post

Tải miễn phí mẫu Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng cho các bạn đang làm luận văn thạc sĩ ngành Tài chính Ngân Hàng, còn rất nhiều nội dung tham khảo về Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng, các bạn có thể tham khảo tại các bài viết tiếp theo của Luận văn Panda.

Lưu ý: Trong quá trình làm đề tài luận văn thạc sĩ Tài Chính Ngân Hàng, nếu các bạn không có thời gian làm bài, hay những khó khăn khác có thể liên hệ với Dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ của bên mình để được hỗ trợ làm bài qua:

SĐT/ZALO: 0932.091.562

Mục lục ẩn

1. Các nhân tố bên ngoài

1.1 Chu kỳ kinh tế (Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng)

Một trong những yếu tố khá phỗ biến dẫn đến rủi ro tín dụng là xuất phát từ việc người vay gặp phải những thay đổi khó lường của môi trường kinh doanh, ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế. Trong giai đoạn tăng trưởng cao, các doanh nghiệp kinh doanh thuận lợi nên dễ thu hồi nợ vay và rủi ro tín dụng xảy ra là thấp. Ngược lại, vào thời kỳ suy thoái, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn nên các khoản vay dễ xảy ra rủi ro đặc biệt là những khoản trung dài hạn.

1.2 Lãi suất, lạm phát, tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Lãi suất cơ bản cao phản ánh chính sách can thiệp của Ngân hàng Trung ương khi lạm phát vượt qua mức độ cho phép. Cơ chế hoạt động của công cụ dự trữ bắt buộc nhằm khống chế khả năng tạo tiền, hạn chế bội số tín dụng của các NHTM, gián tiếp tác động đến rủi ro tín dụng tại các NHTM.

Khi lạm phát cao, NHTW nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khả năng cho vay và khả năng thanh toán của các ngân hàng bị thu hẹp (do hệ số nhân tiền tệ giảm), khối lượng tín dụng trong nền kinh tế giảm dẫn đến lãi suất tăng, lãi suất tăng bao gồm lãi suất vay. Điều này có thể làm tăng áp lực thanh toán nợ của những khách hàng vay hiện tại cũng như khả năng xảy ra rủi ro tín dụng tăng cao hơn. Ngược lại nếu lạm phát hạ thấp, NHTW giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc tức là tăng khả năng tạo tiền, cung về tín dụng cũng tăng lên và lãi suất vay lúc này giảm so với trước. Khách hàng không bị áp lực số tiền lãi thanh toán cho NH, xác suất xảy ra rủi ro tín dụng giảm. Tuy nhiên khi lãi suất vay giảm, khối lượng tín dụng tăng lên và có trong dài hạn sẽ dẫn đến lạm phát tăng cao. (Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng)

1.3 Môi trường pháp lý:

Đây là nhân tố gây rủi ro phỗ biến ở những nước có chính sách quản lý kinh tế không ổn định. Những thay đồi về chính sách thuế, quy định về kinh doanh bất động sản… sẽ làm cho các doanh nghiệp khó chủ động trong chiến lược kinh doanh của mình. Môi trường kinh doanh không ổn định sẽ ảnh hưởng đến tình hình tài chính của người vay suy yếu cũng như rủi ro tín dụng có khả năng cao hơn.

Các nhân tố vĩ mô, khách quan như môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý cũng như chính trị – xã hội có mức độ tác động khác nhau đến từng ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh do những đặc điểm riêng của mỗi ngành nghề. Những ngành nghề khá nhạy cảm với sự thay đổi của thị thường, của các nhân tố khách quan như chứng khoán, bất động sản, xây dựng,…và có những ngành nghề ít hoặc không chịu tác động của sự thay đổi môi trường bên ngoài như y tế, giáo dục, hàng tiêu dùng,… Vì thế đánh giá tác động của các yếu tố vĩ mô bên ngoài đến rủi ro tín dụng khi thực hiện cho một khách hàng vay là cần đánh giá trong điều kiện cụ thể của từng ngành nghề kinh doanh.

Xem Thêm chi tiết về quy trình làm luận văn và bảng giá viết thuê luận văn thạc sĩ tại đây:

===> Bảng Giá viết luận văn thạc sĩ

2. Các nhân tố bên trong (Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng)

2.1 Nhóm nhân tố thuộc về khách hàng cho vay

2.1.1 Tiềm lực tài chính của khách hàng vay

Năng lực tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro tổng thể của khách hàng. Không có giao dịch nào là không có rủi ro, nếu khách hàng có tiềm lực tài chính mạnh thì việc một giao dịch không thành công sẽ không làm khách hàng mất đi khả năng trả nợ, nếu tài chính của khách hàng yếu thì khi có một giao dịch không thành công thì lập tức có ảnh hưởng đến khách hàng cũng như là ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng.

2.1.2 Sử dụng vốn vay

Mục đích sử dụng vốn là căn cứ quan trọng để ngân hàng xem xét cấp tín dụng cho khách hàng. Mọi phương án vay vốn khi được gửi cho ngân hàng đều thể hiện rõ mục đích vay vốn của mình để được xem xét cấp tín dụng. Ngân hàng chỉ cấp tín dụng cho việc sử dụng vốn đúng mục đích và đảm bảo khả năng trả nợ cho ngân hàng. Khi đánh giá mục đích vay cũng như là phương án vay vốn của khách hàng thì ngân hàng đã xem xét các rủi ro có thể gặp phải và dự phòng phương án khắc phục. Vì vậy việc khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích vay có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng trả nợ của khách hàng. Khi khách hàng sử dụng vốn vào mục đích khác, không đúng với phương án đã gửi ngân hàng thì có khả năng xảy ra những rủi ro nằm ngoài những phương án dự phòng và khả năng khách hàng không trả được nợ và dễ xảy ra.

Khách hàng luôn có những biện pháp để kiểm soát vốn vay sau khi giải ngân như: yêu cầu khách hàng cung cấp chứng từ chứng minh mục đích sử dụng vốn trước hoặc sau giải ngân, kiểm tra thực tế…Tuy nhiên trên thực tế, không ít trường hợp khách hàng cố ý sử dụng vốn vào nhiều mục đích khác nhau làm tăng rủi ro mà ngân hàng không thể kiểm soát được. Và cũng có nhiều trường hợp những ngân hàng thiếu chặt chẽ trong công tác kiểm soát giải ngân dẫn đến việc khách hàng sử dụng vốn sai mục đích.

2.1.3 Khách hàng cố tình gian lận, lừa đảo ngân hàng (Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng)

Đây cũng là một trong những nhân tố gây ra rủi ro ngân hàng. Bằng nhiều thủ đoạn tinh vi hoặc lợi nhuận sự tín nhiệm của ngân hàng, người vay đã lập hồ sơ vay, chiếm đoạt tài sản ngân hàng. Khi khách hàng vay cố tình lừa đảo thì rất khó để ngân hàng phát hiện ra, đặc biệt là những ngân hàng nhỏ, có quy trình tín dụng chưa chặt chẽ, trình độ cán bộ thẩm định chưa cao.

2.1.4 Năng lực quản trị, kinh nghiệm kinh doanh của khách hàng

Đây là một trong những nhan tố quan trọng tác động đến khả năng hoàn trả nợ vay. Khi thẩm định cho vay, ngân hàng nào cũng ưu tiên doanh nghiệp, cá nhân có kinh nghiệm, thâm niên và đạt những thành công trong ngành hơn là những doanh nghiệp mới gia nhập thị trường. Khách hàng càng non trẻ kinh nghiệm trong ngành thì càng dễ gặp rủi ro hơn so với những khách hàng hoạt động lâu năm. Đối với một doanh nghiệp thì năng lực quản trị cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến sự tồn tại của một doanh nghiệp.

2.1.5 Uy tín, lịch sử trả nợ

Xem xét lịch sử trả nợ của khách hàng trong quá khứ là quan trọng bởi đây là tín hiệu cho biết khách hàng có đang gặp khó khăn về tài chính không và có ý định thiện chí trả nợ không. Nếu khách hàng có lịch sử trả nợ không tốt thì có khả năng sẽ tiếp diễn hiện tượng đó trong tương lai.

2.2 Nhóm nhân tố thuộc về ngân hàng cho vay (Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng)

2.2.1 Chính sách tín dụng

Hoạt động tín dụng mang lại lợi nhuận chủ yếu cho các ngân hàng, do vậy một chính sách tín dụng phù hợp với đặc điểm nguồn vốn, nguồn nhân lực, khả năng quản trị rủi ro…sẽ giúp hoạt động tín dụng đạt hiệu quả cao hơn. Một chính sách tín dụng hiệu quả là phải được cập nhật phù hợp với những thay đổi của các nhân tố trong môi trường kinh tế, xã hội, chính trị. Ngân hàng phải làm tốt công tác dự báo và định hướng cho các đơn vị trực thuộc của mình trong từng giai đoạn phát triển kinh tế.

2.2.2 Quy trình kiểm soát nội bộ

Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn so với Thanh tra Ngân hàng Nhà nước là ở tính thời gian vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm soát viên, việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên trong suốt quá trình khách hàng vay. Hoạt động kiểm soát nội bộ bao gồm kiểm soát trong khi cho vay và kiểm tra định kỳ sau cho vay, bao gồm kiểm tra việc thực hiện sự tuân thủ các điều kiện cấp tín dụng đã được phê duyệt và tuân thủ các quy định liên quan trong hoạt động cho vay. Nếu hoạt động kiểm soát không hoạt động chặt chẽ thì sẽ dẫn đến việc không tuân thủ đầy đủ các điều kiện cấp tín dụng. Và điều này có thể dẫn đến việc kiểm soát vốn vay không chặt chẽ, hệ lụy là khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ với ngân hàng, không phát hiện và xử lý kịp thời những rủi ro phát sinh.

2.2.3 Chuyên môn, đạo đức của cán bộ thẩm định tín dụng (Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng)

Cán bộ tín dụng không đảm bảo chuyên môn và đạo đức bị tha hóa thì có thể dẫn đến việc cho vay những khách hàng có phương án vay kém hiệu quả, rủi ro cao, các điều kiện kiểm soát rủi ro lỏng lẽo và chấp nhận cho vay những khách hàng kém uy tín. Những trường hợp cán bộ tín dụng tha hóa về đạo đức, vì lợi ích cá nhân và cấu kết với khách hàng vay, cố ý giả mạo hồ sơ và trình cho khách hàng vay. Từ đó dẫn đến rủi ro tín dụng cũng như gây thất thoát tài sản của ngân hàng.

2.2.4 Quá trình giám sát, quản lý sau cho vay

Mục tiêu của việc giám sát, quản lý sau cho vay là kiểm tra việc thực hiện các điều khoản cam kết của khách hàng với ngân hàng đồng thời kịp thời phát hiện những thay đổi có thể ảnh hưởng đến nguồn trả nợ cũng như khả năng trả nợ của khách hàng. Việc ngân hàng không chặt chẽ trong quá trình kiểm tra, giám sát sau giải ngân sẽ rất rủi ro cho ngân hàng khi không phát hiện và xử lý kịp thời những rủi ro phát sinh sau giải ngân.

Xem nhiều lời mở đầu tại đây:

===> Lời mở đầu trong luận văn thạc sĩ

3. Nghiên cứu thực nghiệm về rủi ro tín dụng (Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng)

3.1. Nghiên cứu ngoài nước

Mwanza Nkusu (2011) và Ahlem Selma Messai (2013) cũng đưa ra kết quả tương tự trong nghiên cứu về các yếu tố vi mô và vĩ mô quyết định nợ xấu. Các yếu tố vĩ mô và yếu tố nội tại của ngân hàng quyết định nợ xấu ở Hy Lạp. Các tác giả đã đưa ra các yếu tố vĩ mô đó là tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ cho vay; yếu tố nợ công cũng làm ảnh hưởng đến nợ xấu; Và yếu tố nội tại của ngân hàng như là chính sách của mỗi ngân hàng, đặc biệt là việc cải thiện hiệu quả hoạt động ngân hàng và sự quản lý rủi ro cũng sẽ tác động đến nợ xấu.

Vistor Castro (2012) đã nghiên cứu và kết luận ngoài các yếu tố vĩ mô như tốc độ tăng trưởng GDP, chỉ số giá chứng khoản, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ lãi suất và tăng trưởng tín dụng; tỷ giá hối đoái thực thì yếu tố khủng hoảng tài chính cũng tác động đến rủi ro tín dụng gia một cách đáng kể.

Abhiman Das and Saibal Ghosh (2007) nghiên cứu về các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại nhà nước ở Indian. Trong đó các yếu tố vi mô ảnh hưởng lớn là tốc độ tăng trưởng tín dụng, danh mục cho vay nhiều rủi ro có tác động tiêu cực đến rủi ro tín dụng; các yếu tố vi mô khác như phát triển văn phòng chi nhánh, tỷ lệ chi phí hoạt động/ biên độ sinh lời ảnh hưởng không đáng kể đến rủi ro tín dụng. Đồng thời trong các yếu tố vĩ mô thì yếu tố tăng trưởng GDP là có ảnh hưởng mạnh nhất đến rủi ro tín dụng. (Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng)

Hashim Khan & Rehman Rasli (2010) nghiên cứu về rủi ro chính trị và những yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng ở các Ngân hàng ở Pakistan. Các yếu tố từ phía ngân hàng bao gồm qui mô ngân hàng, sự tăng trưởng dư nợ cho vay, biên độ lợi nhuận ròng và tỷ lệ huy đổng/tổng tài sản là những yếu tố chính tác động đến nợ xấu tại Pakistan. Trong các yếu tố vĩ mô thì rủi ro chính trị là một vấn đề lớn mà các ngân hàng cần quan tâm trước khi mở rộng danh mục cho vay của của các ngân hàng ở Pakistan. Các yếu tố vĩ mô còn lại như tỷ lệ lãi suất thực có tác động đến rủi ro tín dụng và tỷ giá hối đoái thì ảnh hưởng không đáng kể.

Inekwe, Murumba (2013) đã xây dựng mô hình đo lường mối quan hệ giữa GDP thực và nợ xấu ở Nigeria. Nghiên cứu cho thấy mối quan hệ quan trọng giữa GDP thực và nợ xấu, GDP thực là một biến quan trọng ảnh hưởng đến nợ xấu. Tác giả cũng đưa ra kiến nghị để giảm bớt nợ xấu thì Chính phủ cần thực hiện các chính sách tạo ra môi trường thuận lợi để cải thiện GDP thực của đất nước. Điều này bao gồm việc phát triển cơ sở hạ tầng, tỷ lệ lãi suất trung bình, tỷ giá hối đoái; đồng thời cần cải thiện qui trình của các cơ quan có liên quan để bảo đảm rằng quá trình và nguyên tắc cho vay được tuân theo một cách nghiêm chỉnh.

3.2. Nghiên cứu trong nước

Nguyễn Bảo Thanh Vân (2009) nghiên cứu quản trị rủi ro tín dụng tại NHTMCP Công thương Việt Nam đã nêu ra những vấn đề cơ bản của quản trị rủi ro tín dụng và mô hình quản lý rủi ro tín dụng của Vietinbank.

Bùi Thị Hồng (2010) đưa ra giải pháp quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế.

Trương Đông Lộc (2010) nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của các NHTM Nhà nước ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long”. Nghiên cứu đã đưa ra kết luận các nhân tố ảnh hưởng đó là: Khả năng tài chính của người vay, đảm bảo nợ vay, lĩnh vực ngành nghề chính tạo ra thu nhập để trả nợ, kiểm tra giám sát nợ vay, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng, kinh nghiệm của người vay. Hạn chế của nghiên cứu này là kết quả chỉ kiểm định với các NHTM Nhà nước trên khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Do đó kết quả chỉ đúng ở khía cạnh nào đó, chưa mang tính khái quát cao.

Trần Vũ Khương (2011) thực hiện về quản trị rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel tại NHTMCP Công thương Việt Nam. (Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng)

Trương Sơn Tùng (2013) nghiên cứu các giải pháp hoàn thiện rui ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro tín dụng bao gồm: Chính sách tín dụng; Quy trình cấp tín dụng; Thông tin tín dụng; Hệ thống xếp hạng tín dụng; Chất lượng nguồn nhân lực và Các yếu tố bên ngoài. Kết quả nghiên cứu cho thấy 6 yếu tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương.

Đỗ Huỳnh Anh và Nguyễn Đức Hùng (2013) có bài “Phân tích thực tiễn về những yếu tố quyết định nợ xấu tại các Ngân hàng Thương mại Việt Nam” và đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu: Một là các yếu tố vĩ mô bao gồm tốc độ tăng trưởng GDP và lạm phát; hai là các yếu tố vi mô bao gồm tỷ lệ nợ xấu của năm trước, sự thiếu hiệu quả, quy mô của ngân hàng, tăng trưởng tín dụng, kết quả kinh doanh (ROE), tỷ lệ nợ trên tổng tài sản. Đó là những yếu tố mà hai tác giả đã xem xét, có sự kế thừa một phần từ các nghiên cứu trước trong và ngoài nước. Hạn chế của mô hình là tác giả thu thập dữ liệu từ 10 ngân hàng để qui ra kết quả cho các ngân hàng thương mại và chỉ kiểm định với các Ngân hàng trên địa bàn TPHCM. Hơn nữa nghiên cứu chỉ kiểm định tổng quát và lấy số liệu từ 10 ngân hàng, nó sẽ không đúng ở mỗi ngân hàng và do đó không phát hiện được các khác biệt nhất định về các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng tại mỗi ngân hàng.

4. Kinh nghiệm một số nước khác về quản trị rủi ro tín dụng (Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng)

Ngân hàng HSBC hiện có 6,600 văn phòng tại 80 quốc gia và vùng lãnh thổ châu Âu, châu Á – Thái Bình Dương, Bắc Mĩ, khu vực Mỹ Latinh, Trung Đông và Bắc Phi. Với tài sản trị giá 2,645 tỷ đô la Mỹ (tính đến ngày 30/06/2013), HSBC là một trong những tổ chức dịch vụ tài chính ngân hàng lớn nhất trên thế giới. Hoạt động của ngân hàng HSBC cực kỳ đa dạng với rất nhiều sản phẩm cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau, các sản phẩm tín dụng của HSBC hiện vẫn đang là các sản phẩm mang lại lợi nhuận rất cao cho ngân hàng. Cuối năm 2012, số dư nợ cho vay hơn 997 tỉ USD, thu nhập từ lãi là hơn 56 tỉ USD. HSBC áp dụng hệ thống quản trị rủi ro tín dụng với các nguyên tắc và chuẩn mực cao nhằm giảm thiểu tối đa các tổn thất cho ngân hàng. HSBC luôn đảm bảo nguyên tắc tác bạch, phân công rõ ràng chức năng giữa các bộ phần trong quá trình giải quyết và giám sát các khoản tín dụng nhằm quản lý độc lập các rủi ro riêng biệt, cụ thể như sau:

  • Thiết lập các chính sách tín dụng. Xác lập các tiêu chuẩn của tập đoàn HSBC: các chính sách tín dụng và các quy định được đưa vào Cẩm nang chi tiết áp dụng chung cho toàn tập đoàn.
  • Xác lập và kiểm soát chính sách đối với các dư nợ tín dụng lớn. Chính sách này xác định các mức cấp tín dụng cao nhất đối với từng loại khách hàng, nhóm khách hàng và các loại tập trung tín dụng khác, được thiết lập với mức độ bảo thủ hơn so với các chuẩn mực hiện tại.
  • Ban hành các định hướng cấp tín dụng cho tập đoàn. Xác định khẩu vị rủi ro tín dụng đối với các mảng thị trường, các ngành nghề và loại sản phẩm cụ thể. Tất cả các chi nhánh của tập đoàn phải dựa trên các tiêu chuẩn luôn được cập nhật này để triển khai đến từng nhân viên kinh doanh sản phẩm tín dụng.
  • Tái thẩm định độc lập đối với tất cả các khoản vay vượt quá quyền phán quyết của các chi nhánh. Quy trình tái tục các hạn mức vay hoặc xem xét định kỳ khoản vay cũng được thực hiện như các khoản vay mới. (Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng)
  • Quản lý rủi ro đối với các giao dịch giữa các tập đoàn và các tổ chức tài chính khác nhằm tránh việc tập trung rủi ro vào các tổ chức tài chính khác. Việc quản lý dựa trên hệ thống quản lý thông tin tập trung hóa cao và xử lý tự động.
  • Quản lý rủi ro giữa các quốc gia. Ứng dụng hệ thống quản lý hạn mức rủi ro cho từng quốc gia, có tính tập trung cao dựa trên các thời hạn cho vay và các loại hình kinh doanh đối với dư nợ tín dụng phát sinh tại từng quốc gia.
  • Quản lý rủi ro tín đối với một số ngành đặc biệt. Các ngành nghề đó bao gồm ngành vận chuyển hàng hải, hàng không, viễn thông, sản xuất xe hơi, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản bị nhiều hạn chế để giảm thiểu rủi ro.
  • Quản lý và phát triển hệ thống chấm điểm, xếp hạng tín dụng. Các khoản tín dụ ng được nhóm thành từng nhóm để xác định các rủi ro đặc thù từ đó có biện pháp quản trị rủi ro đặc biệt. Hiện nay, tổng dư nợ nội và ngoại bảng được chia làm 22 nhóm để phân tích và quản lý trên hệ thống xử lý tự động với nguồn thông tin dồi dào của.

XEM THÊM NHIỀU CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG LUẬN VĂN THẠC SĨ TẠI ĐÂY:

===>>> CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG LUẬN VĂN THẠC SĨ

5. Đánh giá kết quả và hiệu quả trong việc cấp tín dụng của các đơn vị  kinh doanh của tập đoàn.

Các báo cáo về chất lượng của danh mục tín dụng được xem xét liên tục qua đó đưa ra các yêu cầu điều chỉnh thích hợp để nâng cao hiện quả và mức độ an toàn của danh mục.

Báo cáo tất cả các khía cạnh của toàn bộ danh mục tín dụng của tập đoàn cho cấp cao nhất của tập đoàn. Nội dung báo cao bao gồm mức độ tập trung tín dụng theo ngành, hạn mức rủi ro tín dụng đối với KH lớn, tổng hạn mức tín dụng cho các thị trường mới và các khoản dự phòng tương ứng, các khoản nợ xấu và dự phòng, đánh giá các khoản tín dụng cho các ngành cần đặc biệt quan tâm, hạn mức cho các quốc gia, nguyên nhân phát sinh nợ xấu, … (Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng)

  • Quản lý hệ thống thông tin dữ liệu tín dụng nhằm đảm bảo tập trung hóa cao nhất tất cả các thông tin tín dụng liên quan đến KH và giao dịch tín dụng.
  • Tư vấn, hướng dẫn cho các đơn vị kinh doanh các quy định cấp tín dụng, chính sách về môi trường và xã hội, chấm điểm tín dụng và dự phòng rủi ro, các sản phẩm mới, cung cấp các khóa đào tạo, báo cáo tín dụng.
  • Thay mặt cho tập đoàn làm việc với cơ quan hữu quan về các vấn đề liên quan đến hoạt động tín dụng. Hoạt động quản trị rủi ro tín dung HSBC cho thấy: HSBC chú trọng xem xét đánh giá và phân tích rủi ro, đo lường mức độ rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của NH để hạn chế tối thiểu tổn thất và có những biện pháp quản lý tốt tốt nhất trong quản trị rủi ro tín dụng. Việc áp dụng các phương thức xử lý dữ liệu hiện đại trên nền tảng toán kinh tế và hệ thống công nghệ thông tin cao cấp kết hợp với sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy định an toàn và chính sách tín dụng của toàn hệ thống đã góp phần cho sự thành công trong quản trị rủi ro tín dụng của HSBC, giúp NH đạt tăng truởng như mục tiêu đặt ra và phát triển mạng lưới trên toàn thế giới.

5.1. Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Từ cơ sở các lý thuyết và các nghiên cứu liên quan, trên cơ sở kế thừa và chọn lọc các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng. Dựa vào kết quả nghiên cứu của Trần Thị Anh Đào (2011); Trương Sơn Tùng (2013), Nguyễn Thành Long và cộng sự (2017), tác giả đưa ra mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng Kiên Long. Căn cứ vào kết quả nghiên cứu định tính, 2/3 thành viên nhóm thảo luận cũng cho rằng 06 nhân tố mà tác giả đã nêu trong quá trình thảo luận là khá đầy đủ về sự ảnh hưởng đến quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Kiên Long.

Qua cơ sở lý thuyết đã nêu và kết quả nghiên cứu định tính. Mô hình nghiên cứu được tác giả đề xuất bao gồm 6 biến độc lập và 1 biến phụ thuộc: Y – Quản trị rủi ro tín dụng; X1 – Chính sách tín dụng; X2 – Quy trình cấp tín dụng; X3 – Thông tin tín dụng; X4 – Hệ thống xếp hạng tín dụng; X5 – Nhân tố về phía khách hàng; X6 – Nhân tố khách quan.

5.2 Chính sách tín dụng (Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng)

Greuning và Bratanovic (2009), chính sách tín dụng của ngân hàng cần chú ý đến quy mô và sự phân bổ các nguồn lực của ngân hàng và cách thức ngân hàng quản lý danh mục cho vay của mình như việc thẩm định, ra quyết định, giám sát và thu hồi khoản vay như thế nào. Một chính sách tốt không những có quy định về giới hạn cho vay mà còn cho phép nhân viên tín dụng trình bày và thuyết phục với hội đồng xét duyệt những khoản vay tốt mà không vi phạm những nguyên tắc cho vay.

Tính linh hoạt trong điều chỉnh chính sách tín dụng cũng là điều quan trọng khi vận hành. Tuỳ vào từng giai đoạn của nền kinh tế mà ngân hàng điều chỉnh chính sách tín dụng của mình theo hướng mở rộng hay thắt chặt. Khi nền kinh tế tăng trưởng, chính sách tín dụng của ngân hàng sẽ được xây dựng theo hướng giảm lãi suất, tỷ lệ vốn tham gia tài trợ của ngân hàng vào dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng sẽ cao (từ 70-80%), thủ tục và thời gian xét duyệt cho vay sẽ gọn nhẹ và mau chóng. Ngược lại, ngân hàng sẽ thay đổi chính sách tín dụng theo hướng tăng lãi suất, giảm tỷ lệ vốn tham gia vào dự án của khách hàng và tăng độ khó trong quá trình xét duyệt cho vay trong điều kiện kinh tế khó khăn. Việc điều hành chính sách tín dụng góp phần giảm thiểu tổn thất do rủi ro tín dụng gây ra, đảm bảo được lợi nhuận kinh doanh cho ngân hàng. Trên cơ sở đó giả thuyết H1 được đề xuất như sau:

Gỉa thuyết H1: Chính sách tín dụng có ảnh hưởng cùng chiều đến quản trị rủi ro tín dụng

5.3 Quy trình cấp tín dụng (Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng)

Việc đánh giá một quy trình cấp tín dụng cần tập trung vào phân tích các hướng dẫn ban hành và sổ tay tín dụng đã được áp dụng và đánh giá năng lực hoạt động của các bộ phận có liên quan đến hoạt động tín dụng, ngoài ra cần đánh giá thêm cách thực hiện các bước lập hồ sơ tín dụng, thẩm định, ra quyết định, giải ngân, giám sát và thanh lý. Cụ thể, những nhân tố cần được đánh giá là: quy trình phân tích, thẩm định và ra quyết định cho vay có được chi tiết hoá?; có các quy định, quy chế về ra quyết định cho vay, giới hạn cấp tín dụng ở từng cấp quản lý và từng chi nhánh của hệ thống ngân hàng hay không?; có các quy định về đảm bảo cho từng loại hình tín dụng bao gồm cả các phương pháp, các thức định giá, lưu trữ các loại tài sản đảm bảo cho khoản vay hay không?; có quy định về quy trình giám sát, điều hành các khoản vay đã cấp hay không? và quy trình xử lý đối với các trường hợp ngoại lệ hay không? (Greuning và Bratanovic, 2009).

Việc thiết lập và không ngừng hoàn thiện quy trình tín dụng có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng. Điều này góp phần ngân cao chất lượng và giảm thiểu rủi ro tín dụng. Trên cơ sở đó giả thuyết H2 được phát biểu như sau: (Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng)

Giả thuyết H2: Quy trình tín dụng có ảnh hưởng cùng chiều đến quản trị rủi ro tín dụng

5.4 Thông tin tín dụng

Thông thường, ngân hàng có thể thu thập thông tin tín dụng từ ba nguồn chính đó là: từ khách hàng, từ thông tin nội bộ của ngân hàng và từ các thông tin bên ngoài khác. Tuy nhiên việc thu thập thông tin có rất nhiều vấn đề cần chú ý trong đó là vấn đề bất cân xứng thông tin. Vấn đề này phát sinh khi ngân hàng có ít thông tin về uy tín, năng lực tài chính, thiện chí trả nợ, hiệu quả kinh doanh dự án của khách hàng. Ngân hàng sẽ cấp tín dụng cho những dự án không mang lại lợi nhuận hay khách hàng đầu tư vốn không đúng với mục đích đã cam kết với ngân hàng. Bên cạnh đó, việc đầu tư vào hệ thống lưu trữ thông tin tín dụng nhằm phục vụ cho công tác tín dụng tốn nhiều chi phí cho ngân hàng. Thông tin từ bên thứ ba như đối tác của khách hàng, trung tâm tín dụng, tổ chức xếp hạng tín dụng, các ngân hàng khác,… có thể không chính xác gây bất lợi cho việc ra quyết định cho ngân hàng. Chính vì vậy, ngân hàng phải cẩn trọng trong việc thu thập, lựa chọn thông tin và nguồn gốc thông tin để đảm bảo tốt cho công tác thẩm định và ra quyết định cho vay. Giả thuyết H3 được phát biểu như sau:

Giả thuyết H3: Thông tin tín dụng có ảnh hưởng cùng chiều đến quản trị rủi ro tín dụng

5.5 Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ (Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng)

Hệ thống xếp hạng tín dụng là công cụ dùng để quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả và được áp dụng mang tính bắt buộc ở các ngân hàng trên thế giới theo đề nghị của Hiệp ước Basel. Xếp hạng tín dụng là sự đánh giá uy tín tín dụng của người đi vay và người đảm bảo. Xếp hạng tín dụng thường áp dụng cho những doanh nghiệp lớn, ngân hàng, công ty bảo hiểm hay các tổ chức công.

Theo tác giả Bessis (2011), xếp hạn tín dụng nội bộ là đánh giá tín dụng các ngân hàng ấn định cho người đi vay. Không giống như những xếp hạng của các cơ quan, sử dụng những thang đo công khai , xếp hạng tín dụng nội bộ sử dụng những thang đo độc quyền của mỗi ngân hàng.

Theo yêu cầu của Basel II, các NHTM sử dụng phương thức tiếp cận xếp hạng tín dụng nội bộ phải xây dựng hệ thống xếp hạng nội bộ của ngân hàng cho toàn bộ khoản mục tín dụng, đầu tư của tài sản Có. Trên cơ sở đó, NHTM tính toán các hệ số rủi ro cho từng khoản nợ hay cho từng loại tài sản. Kết quả xếp hạng càng thấp thì mức độ rủi ro càng cao.

Xếp hạng khách hàng vay chủ yếu là dự báo nguy cơ vỡ nợ theo 3 cấp độ cơ bản là: nguy hiểm, cảnh báo và an toàn, tức là dựa vào xác suất không trả nợ được của khách hàng – PD: Probality of Default. NHTM dựa vào các khoản nợ mà khách hàng đã giao dịch với ngân hàng trong quá khứ là 5 năm, với 3 nhóm dữ liệu quan trọng là các chỉ tiêu tài chính mang tính định tính và chỉ tiêu tài chính mang tính định lượng, và nhóm dữ liệu mang tính cảnh báo liên quan đến khả năng trả nợ của khách hàng (Trầm Thị Xuân Hương, 2009). Từ đó, NHTM quy định mức dự phòng trích lập dự phòng cụ thể cho từng khoản nợ theo tỷ lệ nhất định tương ứng với mức rủi ro đã tính toán. Ngân hàng dự báo được nguy cơ vỡ nợ và kịp thời có những biện pháp xử lý khoản nợ xấu, giảm thiểu được mất mác cho ngân hàng.

Bên cạnh đó, việc ứng dụng kết quả với xếp hạng tín dụng còn ở mục địch kiểm soát các khoản vay của ngân hàng. Với từng khoản vay của khách hàng được ngân hàng xếp hạng, ngân hàng quy định về việc giám sát cho từng loại khoản vay và các chính sách phục vụ khách hàng tốt hơn (Trầm Thị Xuân Hương, 2009).

Xếp hạng tín dụng nội bộ không đơn thuần chỉ là công cụ để phân loại, thẩm định khách hàng nhằm tiến hành đi đến quyết định cấp tín dụng mà đây còn là công cụ góp phần phục vụ công tác quản trị của ngân hàng trong cho vay, thu nợ và xử lý rủi ro tín dụng. Chính vì thế việc xây dựng một hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ theo những quy định quốc tế là cần thiết cho việc nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng ở các NHTM. Trên cơ sở đó giả thuyết H4 được đề xuất như sau: (Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng)

Giả thuyết H4: Hệ thống xếp hạng tín dụng có ảnh hưởng cùng chiều đến quản trị rủi ro tín dụng.

Xem thêm nhiều bài luận văn mẫu khác tại đây:

===> Luận văn thạc sĩ Tài Chính Ngân Hàng

5.6 Nhân tố thuộc về khách hàng

Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, gian lận, cố tình lừa đảo ngân hàng và không có thiện chí trả nợ dẫn đến ngân hàng khó thu hồi nợ. Trong nghiên cứu của Trần Thị Anh Đào (2011), đã chứng minh mối quan hệ cùng chiều giữa yếu tố thuộc về khách hàng và rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam. Vì vậy, giả thuyết H5 được phát biểu như sau:

Giả thuyết H5: chất lượng nguồn nhân lực có ảnh hưởng tích cực (cùng chiều) đến quản trị rủi ro tín dụng

5.7 Nhân tố môi trường khách quan (Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng)

Tác giả Abhiman Das và Saibal Gosh (2007) đã nhận định sự cạnh tranh giữa các ngân hàng tạo động lực đổi mới và nâng cao cách thức hoạt động của từng ngân hàng ngày càng tốt hơn. Tuy nhiên, sự canh tranh gay gắt giữa các ngân hàng và các trung gian tài chính khác tạo ra những quy định dưới chuẩn trong cấp tín dụng ngân hàng. Để bù đắp khoản lợi nhuận bị mất đi, các nhà quản lý phải hy sinh mục tiêu chuẩn hoá thẩm định tín dụng và trưởng tín dụng thiếu kiểm soát làm tổn hại chất lượng tín dụng trong tương lai, và những khoản tín dụng này sẽ trở thành nợ xấu. Tình hình ngành ngân hàng Việt Nam trong những năm vừa qua (2008 – 2010) là những bằng chứng cho thấy vấn đề này. Sự chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng dẫn đến sự mất ổn định của nền kinh tế, gây khó khăn về vốn cho doanh nghiệp. Vấn đề nợ xấu trở thành một bài toán nan giải của cả ngân hàng và cơ quan quản lý. Trên cơ sở đó giả thuyết H6 được đề xuất như sau:

Giả thuyết H6: Các nhân tố môi trường khách quan có ảnh hưởng cùng chiều đến quản trị rủi ro tín dụng

DOWNLOAD FILE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chat Zalo
Chat Facebook
0932091562