Các Yếu Tố Xác Định Lợi Thế Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp Là Gì?

Các Yếu Tố Bên Trong Cấu Thành Năng Lực Lõi Để Xác Định Lợi Thế Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp là gì? Các yếu tố hình thành lên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể chia làm 3 cấp độ: 1) Năng lực cạnh tranh ở cấp độ nguồn lực và năng lực, thể hiện qua nguồn vật lực (máy móc thiết bị, công nghệ, cơ sở hạ tầng), nhân lực, tài lực và khả năng quản lý của doanh nghiệp; 2)   Năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ, thể hiện sản phẩm, dịch vụ độc đáo, sáng tạo, có chất lượng tốt hơn, rẻ hơn và đáp ứng kịp thời hơn đối thủ cạnh tranh; 3) Vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường: Quy mô hoạt động, thị phần chiếm lĩnh, hình ảnh, danh tiếng, khả năng sinh lời… của doanh nghiệp. Vậy Các Yếu Tố Xác Định Lợi Thế Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp Là Gì?

Nếu doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh ở cấp độ nguồn lực và năng lực sẽ có điều kiện tạo ra sản phẩm, dịch vụ độc đáo, sáng tạo, có chất lượng tốt hơn, rẻ hơn và đáp ứng kịp thời hơn đối thủ cạnh tranh. Như vậy sẽ có cơ hội tạo ra quy mô hoạt động và thị phần chiếm lĩnh cũng như hình ảnh, danh tiếng lớn lơn đối thủ cạnh tranh. Từ đó có khả năng thu được lợi nhuận cao hơn để phát triển bền vững (xem Hình 1.2).

Quan hệ giữa các loại lợi thế cạnh tranh trong doanh nghiệp
Quan hệ giữa các loại lợi thế cạnh tranh trong doanh nghiệp

Các nguồn lực và năng lực của doanh nghiệp

Ngoài ra, với bài viết chia sẻ dưới đây sẽ giúp ích được phần nào các bạn học viên đang làm đề tài về năng lực cạnh tranh tại công ty. Và còn rất nhiều đề tài Quản Trị Kinh Doanh về năng lực cạnh tranh, các bạn có nhu cầu tìm hiểu thêm thì có thể tham khảo tại đây.

===>>> Luận Văn Về Năng Lực Cạnh Tranh

Phương tiện, công nghệ và cơ sở hạ tầng

Phương tiện, công nghệ và cơ sở hạ tầng là nguồn lực vật chất của doanh nghiệp. Nó bao gồm các hệ thống như nhà máy, máy móc và thiết bị, các trung tâm hậu cần, các vị trí địa lý, hệ thống công nghệ thông tin, mạng truyền thông… Đây là một nguồn lực và phương tiện trực tiếp để tạo ra sản phẩm, dịch vụ của doianh nghiệp. Vì vậy nó là 1 yếu tạo năng lực cạnh tranh quan trọng của doanh nghiệp. Nội dung phân tích phương tiện, công nghệ và cơ sở hạ bao gồm: Máy móc thiết bị, công suất và công nghệ (tự động hoá, vận hành, tính linh hoạt…); Nhà máy (qui mô, vị trí, thời gian hoạt động…); Qui trình (tính đặc thù, linh hoạt) …

Nguồn lực tài chính

Tài chính là chỉ tiêu lớn và tổng quát để đánh giá khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp. Một tiềm lực tài chính mạnh, hoạt động hiệu quả và linh hoạt tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư đổi mới trang thiết bị và các nguồn lực khác. Từ đó thiết lập và cũng cố vị thế cạnh tranh của mình. Các chỉ tiêu cần đánh giá Nguồn lực tài chính bao gồm: Nguồn vốn, tài sản và vốn chủ sở hữu; khả năng thanh toán; khả năng huy động vốn và tài trợ vốn…

Nguồn nhân lực

Con người là chủ thể của mọi hoạt động. Ngày nay khi mà hàm lượng chất xám trong sản phẩm ngày càng cao, đồng nghĩa với nó là nhân lực được đặt lên hàng đầu. Do vậy, các doanh nghiệp cần đầu tư cho nguồn lực này mới có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Nguồn lực này càng tốt khả năng cạnh tranh càng cao. Đánh giá năng lực cạnh tranh về nguồn nhân lực đánh giá qua các yếu tố như: Số lượng lao động; Cơ cấu lao động, trình độ chuyên môn, tay nghề; Mức độ ổn định; Chính sách bố trí và luân chuyển nhân sự; Chính sách đãi ngộ và thu hút nguồn nhân lực (tiền lương, thưởng, phúc lợi xã hội, đào tạo và phát triển, hệ thống đánh giá khen thưởng); Hệ thống tuyển dụng…

Năng lực quản lý

Năng lực quản lý phản ánh khả năng của doanh nghiệp trong việc khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên một cách có hiệu quả. Các khả năng này được thể hiện trong quá trình quản lý của tổ chức, quá trình ra quyết định và triển khai thực hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức. Nói một cách chung nhất, khả năng của một tổ chức là sản phẩm của cơ cấu tổ chức và hệ thống kiểm soát. Các khả năng này không hẳn thuộc về các cá nhân mà chủ yếu là theo cách các cá nhân tương tác, hợp tác với nhau và ra quyết định trong hoàn cảnh và bối cảnh của một tổ chức. Để phản ánh năng lực quản lý của doanh nghiệp người ta thường phản ánh cấu trúc hay cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp và phân quyền, nhà lãnh đạo và quản trị, hệ thống thông tin quản lý…

Cơ cấu tổ chức và phân quyền trong trong doanh nghiệp sẽ hỗ trợ tất cả các hoạt động trong dây chuyền giá trị của doanh nghiệp. Rất nhiều các doanh nghiệp đã thực hiện những tái cấu trúc chủ yếu dẫn tới việc đội ngũ cán bộ của doanh nghiệp năng động hơn, ít tầng nấc quản lý chung gian. Qua nhiều tầng nấc trung gian quản lý có thể cản trở các nhà quản trị cấp cao trong việc quan tâm tới những ý tưởng mới và hệ thống phê chuẩn phức tạp có thể làm chậm việc ra quyết định, có khi là quá muộn cho những hành động có hiệu quả.

Nhà lãnh đạo và những nhà quản trị là đầu tàu định hướng cho doanh nghiệp. Các quyết định của họ đạo chính xác, hiệu quả, kịp thời và khoa học là nguồn lực lớn cho doanh nghiệp. Yếu tố này luôn gắn chặt với yếu tố nhân lực và văn hóa của Doanh nghiệp. Năng lực của nhà lãnh đạo và nhà quản trị thể hiện qua: Trình độ người quản lý và lãnh đạo; Tầm nhìn và hình ảnh;  Mức độ chấp nhận rủi ro; Khả năng gắn kết các giá trị riêng lẻ tạo nên chuỗi giá trị cho Doanh nghiệp; Gần gũi và chia sẻ; Có phong cách lãnh đạo phù hợp… Nhà lãnh đạo và quản trị tỏ ra uy quyền trong các quyết định của mình bằng tín hiệu quả, trên cơ sở có sự phân cấp, phân quyền rõ ràng, tạo ra một cơ chế thúc đẩy và công nhận giá trị.

Hệ thống thông tin quản lý hỗ trợ cho việc quản lý có hiệu quả. Nó bao gồm: Hệ thống thu thập thông tin bên trong, bên ngoài, hệ thống lưu trữ và xử lý thông tin… Các hệ thống này giúp doanh nghiệp có được thông tin kịp thời, chính xác để ra các quyết định và tạo ưu thế cạnh tranh trên thị trường.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chat Zalo
Chat Facebook
0932091562