Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận

Rate this post

Tải miễn phí mẫu Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp cho các bạn đang làm luận văn thạc sĩ ngành Tài chính doanh nghiệp, còn rất nhiều nội dung tham khảo về Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp, các bạn có thể tham khảo tại các bài viết tiếp theo của Luận văn Panda.

Lưu ý: Trong quá trình làm đề tài luận văn thạc sĩ Tài Chính doanh nghiệp, nếu các bạn không có thời gian làm bài, hay những khó khăn khác có thể liên hệ với Dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ của bên mình để được hỗ trợ làm bài qua

SĐT/ZALO: 0932.091.562


Mục lục ẩn

1.1- Lợi Nhuận Và Vai Trò Của Lợi Nhuận Đối Với Các Doanh Nghiệp Trong Nền Kinh Tế Thị Trường (Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp)

1.1.1- Khái niệm về lợi nhuận

Mục tiêu truyền thống và quan trọng của một chủ công ty theo lý thuyết là đạt tối đa lợi nhuận và giả thuyết này rất vững chắc. Nó vẫn tạo nên cơ sở của rất nhiều lý thuyết của kinh tế vi mô.Về lịch sử mà nói những nhà kinh tế trong các phân tích của họ về công ty đều lấy lợi nhuận tối đa làm mục đích cuối cùng, tuy nhiên có rất nhiều quan điểm khác nhau về lợi nhuận:

  • Theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển trước Marx “cái phần trội lên nằm trong giá bán so với chi phí sản xuất là lợi nhuận”
  • Karl Marx cho rằng: “giá trị thặng dư hay cái phần trội lên trong toàn bộ giá trị của hàng hoá trong đó lao động thặng dư chính là lao động không được trả công của công nhân đã được vật hoá thì tôi gọi là lợi nhuận”.
  • Nhà kinh tế học hiện đại P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus thì định nghĩa rằng: “Lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra bằng tổng số thu về trừ đi tổng số đã chi” hoặc cụ thể hơn là “ lợi nhuận được định nghĩa như là khoản chênh lệch giữa tổng thu nhập của một công ty và tổng chi phí”. (Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp)

Từ các quan điểm trên chúng ta thấy rằng nhờ có lý luận vô giá về giá trị hàng hoá sức lao động, Marx là người đầu tiên đã phân tích nguồn gốc lợi nhuận một cách khoa học, sâu sắc và có ý nghĩa cả về kinh tế, chính trị. Theo ông, lợi nhuận là hình thái chuyển hoá của giá trị thặng dư, lợi nhuận và giá trị thặng dư có sự gống nhau về lượng và khác nhau về chất.

-Về lượng, nếu giá cả hàng hoá bằng giá trị của nó thì lượng lợi nhuận bằng lượng giá trị thặng dư, nếu giá cả hàng hoá không nhất trí với giá trị của nó thì mỗi tư bản cá biệt có thể thu được lượng lợi nhuận lớn hơn hoặc nhỏ hơn giá trị thặng dư, nhưng trong toàn xã hội thì tổng số lợi nhuận luôn bằng tổng số giá trị thặng dư.

-Về chất, giá trị thặng dư là nội dung bên trong được tạo ra trong lĩnh vực sản xuất, là khoản dôi ra ngoài giá trị tư bản khả biến và do sức lao động được mua từ tư bản khả biến tạo ra. Còn lợi nhuận là hình thức biểu hiện bên ngoài của giá trị thặng dư thông qua trao đổi, phạm trù lợi nhuận đã xuyên tạc, che đậy được nguồn gốc quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa. (Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp)

Kế thừa được những gì tinh tế nhất của các nhà kinh tế học tư sản cổ điển, kết hợp với quá trình nghiên cứu sâu sắc nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, Karl Marx đã chỉ rõ được nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và quan điểm về lợi nhuận của ông là hoàn toàn đúng đắn, do đó ngày nay khi nghiên cứu về lợi nhuận chúng ta đều nghiên cứu dựa trên quan điểm của Karl Marx.

Ở nước ta theo Điều 3 Luật Doanh nghiệp ghi nhận: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh doanh có tên riêng, tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.” Mà kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Điều đó chứng tỏ rằng lợi nhuận đã được pháp luật thừa nhận như là mục tiêu chủ yếu và là động cơ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vậy lợi nhuận là gì? (Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp)

Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, là chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp. Từ góc độ của nhà quản trị tài chính doanh nghiệp có thể thấy rằng: Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập (income) và chi phí (expenses) mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được thu nhập từ các hoạt động của doanh nghiệp đưa lại.

Xem Thêm chi tiết về quy trình làm luận văn và bảng giá viết thuê luận văn thạc sĩ tại đây:

===> Giá viết thuê luận văn thạc sĩ

Nội dung của lợi nhuận bao gồm:

* Lợi nhuận hoạt động kinh doanh, dịch vụ và hoạt động tài chính: Là số lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh, dịch vụ và thu được từ hoạt động tài chính thường xuyên của doanh nghiệp (Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp)

* Lợi nhuận từ hoạt động khác: Là số lợi nhuận doanh nghiệp có thể thu được từ hoạt động không thường xuyên, không lường trước được như lợi nhuận từ việc thanh lý các tài sản cố định, thu tiền phát sinh do khách hàng vi phạm hợp đồng …

1.1.2- Vai trò và ý nghĩa của lợi nhuận trong doanh nghiệp

Lợi nhuận doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn đối với toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, vì nó có tác động đến tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Việc phấn đấu thực hiện được chỉ tiêu lợi nhuận là điều quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính doanh nghiệp được ổn định vững chắc.

1.1.3. Đối với bản thân doanh nghiệp (Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp)

Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp nói lên kết quả của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ. Nếu doanh nghiệp phấn đấu cải tiến quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ làm giảm chi phí và hạ giá thành sẽ làm cho lợi nhuận tăng lên.

Lợi nhuận còn là nguồn tích luỹ cơ bản để tái sản xuất mở rộng, là nguồn vốn rất quan trọng để đầu tư phát triển của một doanh nghiệp. Doanh nghiệp hoạt động có lợi nhuận sẽ có điều kiện nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, đảm bảo quyền lợi cho người lao động, có điều kiện xây dựng quỹ như quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển, quỹ khen thưởng, phúc lợi … điều này khuyến khích người lao động tích cực làm việc, nâng cao ý thức trách nhiệm, phát huy tính sáng tạo trong lao động và gắn bó với doanh nghiệp. Nhờ vậy năng suất lao động sẽ được nâng cao góp phần đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh làm tăng lợi nhuận doanh nghiệp.

1.1.4.Đối với xã hội (Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp)

Doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế, lợi nhuận là động lực, là đòn bẩy kinh tế của xã hội. Nếu doanh nghiệp hoạt động kinh doanh đảm bảo tài chính ổn định và luôn tăng trưởng, có lợi nhuận cao thì tiềm lực tài chính quốc gia sẽ ổn định và phát triển. Vì lợi nhuận là nguồn tham gia đóng góp theo luật định vào ngân sách nhà nước dưới hình thức thuế thu nhập doanh nghiệp. Nhờ vậy mà nhà nước có nguồn vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo dựng môi trường kinh doanh tốt hơn cho doanh nghiệp và góp phần hoàn thành những chỉ tiêu kinh tế – xã hội của đất nước.

Xem nhiều lời mở đầu tại đây:

===> Lời mở đầu trong luận văn thạc sĩ

1.2- Phương Pháp Xác Định Lợi Nhuận Của Doanh Nghiệp Và Các Chỉ Tiêu Phân Tích Đánh Giá Lợi Nhuận Của Doanh Nghiệp (Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp)

1.2.1- Phương pháp xác định lợi nhuận của doanh nghiệp.

Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế quan trọng của doanh nghiệp, phản ánh hiệu quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định. Việc đảm bảo lợi nhuận từ các hoạt động sản xuất kinh doanh trở thành một yêu cầu bức thiết, lợi nhuận vừa là mục tiêu vừa là động lực của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Để xác định được lợi nhuận khi lập kế hoạch lợi nhuận và lập báo cáo thu nhập hàng năm của doanh nghiệp người ta áp dụng các phương pháp đó là :

Lợi nhuận được tính toán bởi việc sắp xếp của bất kỳ doanh thu nào được doanh nghiệp tạo ra (không kể tới có phải khách hàng hay không đã trả tiền cho doanh thu này) và trừ đi tổng số tiền chi tiêu của doanh nghiệp. Một trong số chi tiêu này là sự khấu hao, nó là phần tổn thất trong giá trị của tài sản cố định như: xe hơi, máy tính…gây ra do các tài sản này được sử dụng vào việc sản xuất kinh doanh. Theo chế độ hiện hành ở nước ta có 3 cách chủ yếu xác định lợi nhuận sau:

1.2.2 – Phương pháp trực tiếp (Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp)

Theo phương pháp này lợi nhuận của doanh nghiệp  được xác định trực tiếp từ hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính, hoạt động khác.

1.2.3 – Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh

Đây là bộ phận lợi nhuận chủ yếu mà doanh nghiệp thu được từ các hoạt động sản xuất, cung ứng sản xuất dịch vụ trong kỳ được xác định theo công thức:

Lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh = Doanh thu thuần – Giá vốn hàng bán – Chi phí bán hàng – Chi phí quản lý doanh nghiệp

trong đó:

  • Lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh là số lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN).
  • Doanh thu thuần = Doanh thu tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá dịch vụ trong kỳ – Các khoản giảm trừ doanh thu

Các khoản giảm trừ doanh thu gồm:

  • – Chiết khấu hàng bán: là số tiền người bán giảm trừ cho người mua đối với số tiền phải trả cho người mua thanh toán tiền mua sản phẩm, hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp trước thời hạn thanh toán và đã được ghi trên hoá đơn bán hàng hoặc hợp đồng kinh tế.
  • – Giảm giá hàng bán: là số tiền người bán giảm trừ cho người mua ( khách hàng) trên giá bán đã thoả thuận do hàng kém phẩm chất, không đúng quy cách, thời hạn thanh toán đã được ghi trên hợp đồng kinh tế hoặc giảm giá cho khách hàng khi họ mua một khối lượng hàng hoá lớn. (Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp)
  • – Giá trị hàng bán bị trả lại: là giá trị tính theo giá thanh toán của số sản phẩm hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại do vi phạm các hợp đồng kinh tế đã ký kết.
  • – Thuế tiêu thụ đặc biệt: là loại thuế gián thu tính trên một số loại hàng hoá, dịch vụ đặc biệt mà nhà nước không khuyến khích tiêu dùng.
  • – Thuế xuất nhập khẩu: là loại thuế gián thu tính trên sản phẩm hàng hoá của các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước xuất khẩu qua biên giới Việt Nam.
  • Giá vốn hàng bán (GVHB) phản ánh trị giá gốc sản phẩm hàng hoá, dịch vụ (bao gồm cả một số khoản thuế theo quy định như thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng) đã được xác định là tiêu thụ. Khi xác định được doanh thu thì đồng thời giá trị sản phẩm hàng hoá xuất khẩu cũng được phản ánh vào giá vốn để xác định kết quả. Do vậy việc xác định đúng giá vốn hàng bán có ý nghĩa rất quan trọng.

*Đối với doanh nghiệp sản xuất (Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp)

Giá vốn hàng bán  = Giá thành sản phẩm của khối lượng sản phẩm tiêu thụ trong kỳ = Giá thành sản xuất của khối lượng sản phẩm tồn kho đầu kỳ + Giá thành sản xuất của khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ  – Giá thành sản xuất của khối lượng sản phẩm tồn kho cuối kỳ

*Đối với doanh nghiệp thương nghiệp

Giá vốn hàng bán = Trị giá mua vào của hàng hoá bán ra = Trị giá hàng hoá tồn kho đầu kỳ + Trị giá hàng hoá mua vào   trong kỳ – Trị giá hàng hoá tồn kho cuối kỳ

  • Chi phí bán hàng là một bộ phận của chi phí lưu thông phát sinh dưới hình thái tiền tệ để thực hiện các nghiệp vụ bán hàng hóa kinh doanh trong kỳ báo cáo. Chi phí bán hàng được bù đắp bằng khối lượng doanh thu thuần được thực hiện, xét về nội dung kinh tế của các khoản mục chi phí bán hàng ta có: chi phí nhân viên bán hàng, chi phí vật liệu bao bì, chi phí khấu hao tài sản cố định của các khâu bán hàng, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác…
  • Chi phí quản lý doanh nghiệp (QLDN), là một loại chi phí thời kỳ được tính đến khi hạch toán lợi tức thuần tuý của kỳ báo cáo, chi phí QLDN là những khoản chi phí có liên quan đến việc tổ chức quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Nội dung chi phí quản lý cũng bao gồm các yếu tố chi phí như chi phí bán hàng, tuy vậy công dụng chi phí của các yếu tố đó có sự khác biệt. Chi phí quản lý doanh nghiệp phản ánh các khoản chi chung cho quản lý văn phòng và các khoản chi kinh doanh không gắn được với các địa chỉ cụ thể trong cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Xem thêm nhiều bài luận văn mẫu khác tại đây:

===> Luận văn thạc sĩ Tài chính doanh nghiệp

1.2.4 – Lợi nhuận từ hoạt động tài chính (Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp)

Hoạt động tài chính là những hoạt động có liên quan tới việc huy động, quản lý và sử dụng vốn trong kinh doanh

Lợi nhuận từ hoạt động tài chính được xác định theo công thức:

Lợi nhuận hoạt động tài chính = Thu nhập hoạt động tài chính – Thuế gián thu (nếu có) – Chi phí hoạt động tài chính trong đó:

  • Thu nhập tài chính gồm: lãi tiền gửi ngân hàng, bán trả góp, lãi kinh doanh chứng khoán, lãi góp vốn liên doanh, lãi đầu tư ngắn hạn và dài hạn khác, chiết khấu thanh toán khi mua hàng được hưởng, thu tiền do cho thuê tài sản và bán bất động sản, chênh lệch tỷ giá, hoàn nhập khoản dự phòng.
  • Chi phí hoạt động tài chính gồm: lỗ do kinh doanh chứng khoán và các hoạt động đầu tư khác, chi phí đó đem góp vốn liên doanh, chi phí liên quan đến việc thuê tài sản, chênh lệch tỷ giá, lập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán…

1.2.5 – Lợi nhuận từ hoạt động khác (Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp)

Hoạt động khác (hoạt động bất thường) là những hoạt động diễn ra không thường xuyên mà doanh nghiệp không dự tính trước được hoặc có dự tính nhưng ít có khả năng thực hiện như các hoạt động thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, xử lý nợ khó đòi…

Lợi nhuận từ hoạt động khác được xác định theo công thức sau:

Lợi nhuận hoạt động khác = Thu nhập hoạt động khác – Thuế gián thu (nếu có) – Chi phí hoạt động khác trong đó:

  • Thu nhập hoạt động khác là những khoản thu về tiền phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng, tiền thu được từ hoạt động thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, thu các khoản nợ khó đòi, thu các khoản miễn thuế, giảm thuế, tiền thu về giá trị tài sản thu được do vắng chủ, hoàn nhập dự phòng, giảm giá dự trữ và phải thu nợ khó đòi, trích trước sửa chữa lớn tài sản cố định, bảo hành sản phẩm nhưng không dùng hết vào cuối năm.
  • Chi phí hoạt động khác là những khoản chi như: chi phạt thuế, tiền phạt do doanh nghiệp vi phạm hợp đồng, chi cho thanh lý, nhượng bán tài sản, giá trị tài sản bị tổn thất do quỹ dự phòng tài chính không đủ bù đắp chi phí kinh doanh…

Sau khi đã xác định lợi nhuận của các hoạt động kinh doanh, chúng ta tiến hành tổng hợp lại, kết quả sẽ thu được lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp như sau: (Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp)

Lợi nhuận trước thuế TNDN = Lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh + Lợi nhuận hoạt động tài chính + Lợi nhuận hoạt động khác

Sau đó ta sẽ xác định lợi nhuận sau thuế TNDN (lợi nhuận ròng) của doanh nghiệp trong kỳ theo công thức:

Lợi nhuận ròng  = Lợi nhuận trước thuế TNDN – Thuế TNDN

hoặc

Lợi nhuận ròng = Lợi nhuận trước thuế TNDN * (1 – thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp)

Nhận xét: Cách xác định lợi nhuận theo phương pháp trực tiếp rất đơn giản, dễ tính toán, do đó phương pháp này được áp dụng phổ biến và rộng rãi trong các doanh nghiệp sản xuất ít loại sản phẩm. Còn đối với những doanh nghiệp lớn, sản xuất nhiều loại sản phẩm thì phương pháp này không thích hợp bởi khối lượng công việc tính toán sẽ rất lớn, tốn nhiều thời gian và công sức.

Xem thêm nhiều đề cương chi tiết trong luận văn tại đây:

===> Đề cương chi tiết trong luận văn

1.2.6- Phương pháp gián tiếp ( xác định lợi nhuận qua các bước trung gian)

Ngoài phương pháp xác định lợi nhuận như đã trình bày ở trên, chúng ta còn có thể xác định lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp bằng cách tiến hành tính dần lợi nhuận của doanh nghiệp qua từng khâu trung gian. Cách xác định như vậy gọi là phương pháp xác định lợi nhuận qua các bước trung gian . (Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp)

Để xác định được kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh đó là lợi nhuận ròng của doanh nghiệp chúng ta cần tính lần lượt các chỉ tiêu sau:

  1. Doanh thu bán hàng
  2. Các khoản giảm trừ doanh thu (chiết khấu hàng bán, giảm giá hàng bán, giá trị hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu)
  3. Doanh thu thuần về bán hàng (= 1- 2)
  4. Trị giá vốn hàng bán
  5. Lợi nhuận gộp về hoạt động kinh doanh (= 3 – 4)
  6. Chi phí bán hàng
  7. Chi phí quản lý doanh nghiệp
  8. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh (= 5 – 6 – 7)
  9. Thu nhập hoạt động tài chính
  10. Chi phí hoạt động tài chính
  11. Lợi nhuận hoạt động tài chính (= 9 – 10)
  12. Thu nhập hoạt động khác
  13. Chi phí hoạt động khác
  14. Lợi nhuận hoạt động khác (=12 – 13)
  15. Lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp (= 8 + 11 + 14)
  16. Thuế thu nhập doanh nghiệp (=15 * thuế suất thuế TNDN)
  17. Lợi nhuận ròng( =15 – 16) (Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp)

Nhận xét: Cách tính này cho phép người quản lý nắm được quá trình hình thành lợi nhuận và tác động của từng khâu hoạt động đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp, đó là lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp (lợi nhuận ròng). Phương pháp này giúp chúng  ta có thể lập Báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu trên, nhờ đó chúng ta dễ dàng phân tích và so sánh được kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kỳ trước so với kỳ này. Mặt khác chúng ta có thể thấy được sự tác động của từng khâu hoạt động tới sự tăng giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, từ đó sẽ giúp chúng ta tìm ra những giải pháp điều chỉnh thích hợp góp phần nâng cao lợi nhuận, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

1.3 Phân tích điểm hoà vốn (Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp)

1.3.1- Khái niệm điểm hoà vốn

Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó doanh thu bán hàng đủ trang trải mọi chi phí bỏ ra và doanh nghiệp không lỗ, không lãi, là một điểm mà tại đó lợi nhuận của doanh nghiệp bằng không. Như vậy trên điểm hoà vốn sẽ có lãi và dưới điểm hoà vốn sẽ bị lỗ. Xác định điểm hoà vốn  trong kinh doanh là điểm khởi đầu để quyết định quy mô sản xuất, tiêu thụ, quy mô vốn đầu tư  cho sản xuất kinh doanh để đạt mức lãi mong muốn phù hợp với điều kiện hiện hành cũng như đầu tư mới hoặc đầu tư bổ sung.

1.3 2-Phương pháp xác định (Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp)

Xác định sản lượng hoà vốn

Về mặt toán học, điểm hoà vốn là điểm giao nhau của đường biểu diễn doanh thu với đường biểu diễn chi phí. Do đó sản lượng hoà vốn chính là ẩn số của hai phương trình biểu diễn hai đường thẳng đó

  • Gọi F: tổng chi phí cố định
  • V: chi phí khả biến cho một đơn vị sản phẩm
  • Q: sản lượng hoà vốn
  • g: giá bán một đơn vị sản phẩm
  • Khi đó, tổng chi phí khả biến là VQ
  • Tổng chi phí sản xuất là = F + VQ
  • Tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm là = gQ
  • Tại điểm hoà vốn, tổng doanh thu = tổng chi phí ()
  • Þ Qg = F + VQ Þ Q(g – V) = F
  • Þ  Sản lượng hoà vốn = Q = F/ (g – V)

Xác định doanh thu hoà vốn

  • Doanh thu hoà vốn được xác định theo công thức sau:
  • Doanh thu hoà vốn = gQ = g * F/ (g – V) = F/ (1 – V/g )
  • Tỉ lệ (1 – V/ g ) được gọi là tỉ lệ lãi trên biến phí
  • Q được coi là sản lượng hoà vốn

Xác định công suất hoà vốn

Người quản lý cần biết huy động bao nhiêu phần trăm công suất sẽ đạt điểm hoà vốn, mức huy động năng lực sản xuất trên công suất hoà vốn sẽ đưa lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, ngược lại nếu mức huy động năng lực sản xuất thấp hơn công suất hoà vốn doanh nghiệp sẽ bị lỗ. (Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp)

Theo khái niệm điểm hoà vốn  ta có tổng doanh thu = tổng chi phí

ÞgQ = F + VQ ÞF = gQ – VQ, tức là tại điểm hoà vốn thì chênh lệch giữa tổng doanh thu bán hàng với tổng chi phí biến đổi chính là tổng chi phí cố định. Vậy khi huy động 100% công suất đạt sản lượng là s thì chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí biến đổi là (sg – sV). Do đó cần có h% công suất để chênh lệch đó đủ bù đắp chi phí cố định

  • Þ F = (sg – sV) / 100 * h%
  • Þ Công suất hoà vốn = h% = F/ (sg –sV) * 100
  • Nghĩa là cứ 1% công suất sẽ ứng với mức chênh lệch là (sg – sV) * 100.
  • Nếu h%>1 thì doanh nghiệp không đạt được điểm hoà vốn (lợi nhuận < 0)
  • Nếu h%<1 thì doanh nghiệp đạt được điểm hoà vốn (lợi nhuận > 0)

Xác định thời gian đạt điểm hoà vốn

Nếu gọi thời gian đạt điểm hoà vốn  là n thì n được xác định theo công thức sau:

n = 12 tháng * Q/ s với Q: sản lượng hoà vốn của doanh nghiệp

s: sản lượng đạt được khi huy động 100% công suất.

Điều này có nghĩa là doanh nghiệp phải dành một khoảng thời gian là n tháng trong năm mới sản xuất đủ sản lượng hoà vốn.

Kết luận: Phân tích điểm hoà vốn sẽ giúp cho các nhà quản trị tài chính xem xét kinh doanh trong mối quan hệ của nhiều yếu tố tác động tới lợi nhuận, cho phép xác định rõ ràng vào thời điểm nào trong kỳ kinh doanh hoặc ở mức sản xuất, tiêu thụ bao nhiêu sản phẩm thì doanh nghiệp không bị lỗ, từ đó có các quyết định chủ động và tích cực trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

XEM THÊM ===> Cơ Sở Lý Luận

1.4 – Vai trò của lợi nhuận (Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp)

1.4.1- Vai trò của lợi nhuận  đối với doanh nghiệp

  • Lợi nhuận giữ vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì trong điều kiện hạch toán kinh doanh độc lập theo cơ chế thị trường, doanh nghiệp có tồn tại và phát triển hay không thì điều quyết định là doanh nghiệp có tạo ra được lợi nhuận hay không? Chuỗi lợi nhuận của doanh nghiệp trong tương lai sẽ phát sinh và diễn biến như thế nào? Vì thế, lợi nhuận được coi là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng đồng thời là một chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận tác động đến tất cả các mặt hoạt động của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, việc thực hiện chỉ tiêu lợi nhuận là điều kiện quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp được ổn định, vững chắc.
  • Lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp nói lên kết quả của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp phấn đấu cải tiến, nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh làm cho giá thành sản phẩm hạ thì lợi nhuận sẽ tăng lên một cách trực tiếp. Ngược lại, nếu giá thành sản phẩm tăng lên thì lợi nhuận sẽ giảm đi. Bởi vậy là chỉ tiêu quan trọng nhất tác động đến mọi vấn đề của doanh nghiệp, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, đồng thời lợi nhuận ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, là chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. (Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp)

1.4.2 – Vai trò của lợi nhuận đối với xã hội

Ngoài vai trò đối với doanh nghiệp lợi nhận còn là nguồn tích luỹ cơ bản, là nguồn để mở rộng tái sản xuất xã hội. Sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải hạch toán lợi nhuận (hoặc lỗ) rồi từ đó nộp một khoản tiền vào ngân sách nhà nước. Sự tham gia đóng góp này của các doanh nghiệp được phản ánh ở số thuế thu nhập mà doanh nghiệp đã nộp. Thuế thu nhập doanh nghiệp là một sự điều tiết của nhà nước đối với lợi nhuận thu được của các đơn vị sản xuất kinh doanh, để góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và động viên một phần lợi nhuận của cơ sở kinh doanh cho ngân sách nhà nước, bảo đảm sự đóng góp công bằng, hợp lý giữa các thành phần kinh tế, kết hợp hài hoà giữa lợi ích của nhà nước và lợi ích của người lao động. (Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp)

Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, để khuyến khích, nâng cao chất lượng sản xuất, thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ miễn thu cho phần lợi nhuận dùng để tái đầu tư vào sản xuất kinh doanh và miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh ở vùng sâu, vùng xa. Đối với các doanh nghiệp quốc doanh, hợp tác xã, các doanh nghiệp sản xuất điện năng, khai thác mỏ, luyện kim, cơ khí, phân bón, thuốc trừ sâu, vật liệu xây dựng, khai thác và chế biến lâm sản, thuỷ hải sản, xây dựng, vận tải, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo thuế suất 28%, các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm và ngành sản xuất khác nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo thuế suất lớn hơn. Khoản thuế thu nhập mà các doanh nghiệp nộp vào ngân sách nhà nước sẽ dùng để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng mở rộng tái sản xuất xã hội.

1.5 – Các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp (Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp)

Để đánh giá chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp người ta sử dụng các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận tuỳ theo yêu cầu đánh giá đối với các hoạt động khác nhau. Ta có thế sử dụng một số chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận sau đây:

1.5.1. Tỷ suất doanh thu thuần

Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận và doanh thu thuần trong kỳ của doanh nghiệp.

Công thức xác định:

Tỷ suất lợi nhuận/ Doanh thu thuần = Lợi nhuận trước hoặc sau thuế
Doanh thu thuần

 Ý nghĩa: Chỉ tiêu này thể hiện 100 đồng doanh thu thuần trong kỳ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp càng cao.

1.5.2  Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh bình quân (Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp)

Là mối quan hệ giữa lợi nhuận đạt được với số vốn kinh doanh bình quân trong kỳ( vốn cố định và vốn lưu động)

Công thức xác định:

Tỷ suất lợi nhuận/ Vốn kinh doanh bình quân = Lợi nhuận trước hoặc sau thuế
Vốn kinh doanh bình quân

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh cứ 100 đồng vốn kinh doanh bình quân dùng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quan sử dung vốn kinh doanh càng lớn

1.5.3.Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (Cơ Sở Lý Luận Chung Về Lợi Nhuận Doanh Nghiệp)

Là mối quan hệ giữa lợi nhuận với vốn chủ sở hữu sử dụng trong kỳ

Công thức xác định:

Tỷ suất lợi nhuận/ Vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận trước hoặc sau thuế
Vốn chủ sở hữu

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả 100 đồng vốn chủ sở hữu trong kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao, hiệu  quả sử dụng vốn chủ sở hưu càng cao.

DOWNLOAD FILE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chat Zalo
Chat Facebook
0932091562