Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt

Rate this post

Tải miễn phí mẫu Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt cho các bạn đang làm luận văn thạc sĩ ngành Tài chính Ngân Hàng, còn rất nhiều nội dung tham khảo về Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt, các bạn có thể tham khảo tại các bài viết tiếp theo của Luận văn Panda.

Lưu ý: Trong quá trình làm đề tài luận văn thạc sĩ Tài Chính Ngân Hàng, nếu các bạn không có thời gian làm bài, hay những khó khăn khác có thể liên hệ với Dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ của bên mình để được hỗ trợ làm bài qua: 

SĐT/ZALO: 0932.091.562

MẪU KHÁI NIỆM, CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG LUẬN VĂN THẠC SĨ

Mục lục ẩn

1. Khái quát về thanh toán không dùng tiền mặt qua Ngân hàng thương mại

1.1. Những vấn đề cơ bản về thanh toán không dùng tiền mặt (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)

Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ thanh toán chi trả lẫn nhau phải dùng hình thức tiền tệ, vì vậy, thanh toán tiền tệ là một yêu cầu khách quan, là điều cần thiết phục cho quá trình tái sản xuất xã hội. Thanh toán tiền tệ được thực hiện dưới hai hình thức là thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt. Thanh toán bằng tiền mặt là việc chi trả trực tiếp bằng tiền mặt trong các quan hệ thanh toán thu chi giữa nhân dân với nhau, giữa các xí nghiệp, tổ chức kinh tế, cơ quan Nhà nước với nhân dân…. Thanh toán bằng tiền hợp với vai trò của tiền tệ làm vật môi giới trong quá trình lưu thông. Sau khi xuất chuyển hàng hoá hay cung ứng dịch vụ cho người mua, người bán nhận được tiền ngay và quá trình thanh toán cũng chấm dứt ở đó. Nhưng khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đến một trình độ cao hơn, thì việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt không còn tỏ ra là một phương thức duy nhất nữa, lúc đó nó đòi hỏi một phương thức hiện đại hơn, bên cạnh đó với sự phát triển vượt bậc của hệ thống Ngân hàng, các dịch vụ, các công cụ thanh toán đã được Ngân hàng nghiên cứu đưa ra để khách hàng lựa chọn cho mình một hình thức thanh toán thích hợp thay cho thanh toán bằng tiền mặt, thanh toán không dùng tiền mặt phát sinh từ đó. Thanh toán không dùng tiền mặt là phương thức thanh toán “phi tiền mặt” thực chất là dùng các công cụ khác để thay thế tiền mặt trong thanh toán. (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)

Thanh toán không dùng tiền mặt là cách thức thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ không có sự xuất hiện của tiền mặt mà vẫn được tiến hành bằng cách trích tiền từ tài khoản của người chi trả chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán về mặt bản chất thì Thanh toán không dùng tiền mặt phản ánh sự vận động của vật tư hàng hoá, dịch vụ lưu thông. Sự phát triển rộng khắp của Thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế thị trường hiện đại là yêu cầu tất yếu của sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế hàng hoá, do kinh tế hàng hoá phát triển mạnh, khối lượng hàng hoá, dịch vụ trao đổi lớn, tất yếu phải có cách thức trả tiền thuận tiện và an toàn hơn.

Các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, đoàn thể, công dân Việt Nam và nước ngoài sống và hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam gọi chung là đơn vị và cá nhân có quyền lựa chọn cho riêng mình Ngân hàng để mở tài khoản và thực hiện giao dịch phục vụ cho nhu cầu của mình, các đơn vị và cá nhân có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng được gọi chung là chủ tài khoản. Nếu như trong thanh toán sử dụng tiền mặt thì chỉ có sự tham gia của người mua và người bán thì trong phương thức thanh toán không dùng tiền mặt thì chủ thể tham gia còn bao gồm cả Ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác cung ứng dịch vụ thanh toán.

Xem Thêm chi tiết về quy trình làm luận văn và bảng giá viết thuê luận văn thạc sĩ tại đây:

===> Bảng Giá viết luận văn thạc sĩ

1.2. Sự cần thiết của thanh toán không dùng tiền mặt (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)

Ngân hàng thương mại là Ngân hàng kinh doanh tiền tệ nhằm mục tiêu cơ bản là lợi nhuận, vì vậy, nên mạng lưới Ngân hàng rộng khắp để đáp ứng nhu cầu tiền tệ – tín dụng và thanh toán của nền kinh tế hàng hoá phát triển rộng khắp quốc gia và vươn ra thế giới. Nhìn lại lịch sử hình thành ban đầu của Ngân hàng, chúng ta thấy dịch vụ ban đầu của Ngân hàng mà cung cấp là dịch vụ quản lý vốn cho khách hàng, bên cạnh đó Ngân hàng còn đảm bảo thanh toán nhanh chóng, chính xác, an toàn thuận tiện cho khách hàng, do đó tạo được sự tín nhiệm cho khách hàng, và Ngân hàng đã thu hút được nguồn vốn quan trọng nhất cho hoạt động của mình. Ngân hàng là trung gian thanh toán cho khách hàng làm cho quá trình lưu thông hàng hóa được tiến hành một cách có hiệu quả. Nền kinh tế ngày càng phát triển thì tần số giao dịch ngày càng tăng và diễn ra nhanh; khối lượng tiền tệ ngày càng nhiều, phạm vi đã mở rộng ra tận thế giới. Trong điều kiện đó các doanh nghiệp không thể thanh toán trực tiếp với nhau mà cần có sự tham giam của Ngân hàng, chính vì vậy Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán trong nền kinh tế.

Tiền mặt là phương tiện thanh toán không thể thiếu, song ngày nay thanh toán dùng tiền mặt không còn là hình thức thanh toán tối ưu trong các giao dịch thương mại dịch vụ nữa, đặc biệt là các giao dịch có giá trị và khối lượng lớn, trước đây trong nền sản xuất hàng hoá còn nhỏ lẻ, khối lượng hàng hoá ít thì việc thanh toán sử dụng tiền mặt là rất thuận tiện, nhưng trong nền kinh tế thị trường hiện nay sản xuất hàng hoá phát triển ở trình độ cao, khối lượng hàng hoá vô cùng lớn, việc trao đổi hàng hoá đa dạng và trên diện rộng, các hoạt động giao dịch thương mại, dịch vụ hàng hóa ngày nay diễn ra mọi lúc, mọi nơi, vượt cả giới hạn về khoảng cách thì hình thức thanh toán bằng tiền mặt không còn phù hợp nữa.

Xét trên nhiều góc độ, khi hoạt động thanh toán trong xã hội còn phổ biến bàng hình thức tiền mặt nhất là trong thanh toán các khoản có giá trị lớn có thể dẫn đến một số bất lợi như:

  • Chi phí của xã hội để tổ chức hoạt động thanh toán (như chi phí của chính phủ cho việc in ấn, chi phí vận chuyển, bảo quản, kiểm, đếm tiền của hệ thống ngân hàng, các chủ thể tham gia giao dịch) là rất tốn kém. (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)
  • Việc thực hiện giao dịch thanh toán bằng tiền mặt với khối lượng lớn dễ bị các đối tượng phạm pháp lợi dụng để gian lận, trốn thuế, trì hoãn hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng hoặc chủ nợ.
  • Vấn đề an ninh trong thanh toán, bảo quản, vận chuyển tiền luôn luôn tiềm ẩn nhiều nguy hiểm.
  • Sử dụng nhiều tiền mặt trong giao dịch thanh toán của xã hội sẽ là môi trường thuận lợi cho tội phạm lưu hành tiền giả, đe doạ trực tiếp tới lợi ích của các tổ chức, cá nhân và tình hình an ninh quốc gia.

Các bất lợi và rủi ro trên đây là vấn đề xảy ra với bất kỳ quốc gia nào, song với các nước mà thanh toán bằng tiền mặt còn phổ biến thì trong xã hội tình hình sẽ càng phức tạp hơn và khó kiểm soát hơn. Mặt khác, khi nền kinh tế càng ngày càng phát triển cả về chất lượng và số lượng thì việc thanh toán bằng tiền mặt không còn đủ khả năng đáp ứng được nhu cầu thanh toán của toàn bộ nền kinh tế nữa. Từ thực tế đó thì đòi hỏi phải có sự ra đời của một phương thức tiên tiến và hiện đại hơn để có thể đáp ứng được nhu cầu thanh toán ngày càng cao của xã hội, do vậy, sự ra đời của phương thức thanh toán không dùng tiền mặt là tất yếu.

1.3. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)

Thanh toán không dùng tiền mặt được tổ chức thành một hệ thống thống nhất, trong hệ thống này thì Ngân hàng là một trung tâm thanh toán. Mọi hoạt động trao đổi về hàng hóa và dịch vụ đều được kết thúc bằng thanh toán, quan hệ thanh toán liên quan đến mọi hoạt động trong xã hội, vì vậy, việc tổ chức tốt công tác thanh toán đặc biệt là Thanh toán không dùng tiền mặt có ý nghĩa kinh tế rất lớn, ý nghĩa này được thể hiện qua các mặt sau:

Thanh toán không dùng tiền mặt góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển. Ta biết rằng thanh toán vừa là khâu mở đầu và cũng là khâu kết thúc của một chu kỳ sản xuất kinh doanh, do vậy nếu tổ chức tốt công tác thanh toán sẽ góp phần tăng nhanh sự vận động của vật tư, tiền vốn giúp cho các doanh nghiệp thu hồi được vốn nhanh để phục vụ cho chu kỳ sản xuất sau, cũng tức là phục vụ cho quá trình tái sản xuất không ngừng phát triển. Nhờ công tác thanh toán không dùng tiền mặt mà các khách hàng ở xa vẫn có thể thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ nhanh chóng thay vì phải mất nhiều thời gian để vận chuyển tiền mặt, có thể nói thanh toán không dùng tiền mặt đã rút nhanh vòng quay vốn của khách hàng.

Thúc đẩy hoạt động thanh toán trong nền kinh tế với những ưu điểm như: an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí. Phương thức thanh toán không dùng tiền mặt ra đời đã làm giảm được chi phí in ấn, bảo quản, vận chuyển. (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)

Thông qua công tác thanh toán không dùng tiền mặt, Ngân hàng có thể biết được phần nào hoạt động thanh toán của khách hàng từ đó tổng hợp số liệu để biết được hoạt động thanh toán vốn chung cho cả nền kinh tế. Thông qua tình hình biến động số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng, Ngân hàng sẽ thu thập được những thông tin cần thiết về tình hình kinh tế – tài chính của khách hàng như thông tin về dòng lưu chuyển tiền tệ, doanh thu…. Từ đó, Ngân hàng gián tiếp đánh giá được tình hình kinh doanh, tình hình tài chính, khả năng thanh toán… của khách hàng, để thực hiện kiểm soát đồng tiền thông qua việc có các chính sách kịp thời, hợp lý đối với các quyết định về huy động vốn, cho vay và thực hiện các dịch vụ khác của Ngân hàng.

Góp phần tạo thêm nguồn vốn đầu tư: đối với Ngân hàng thì thanh toán qua Ngân hàng làm tăng thêm nguồn vốn vì nó sử dụng được số tiền tạm thời nhàn rỗi của khách hàng gửi vào để đáp ứng nhu cầu thanh toán. Mỗi một doanh nghiệp, cá nhân đều giữ một lượng tiền mặt nhất định để chờ sử dụng. Nếu khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để thanh toán bằng chuyển khoản thì số tiền này sẽ giảm, Ngân hàng sẽ huy động thêm nhiều nguồn vốn để đầu tư cho nền kinh tế. Như vậy, việc thanh toán qua Ngân hàng sẽ giúp cho khả năng tạo tiền của Ngân hàng thương mại, đảm bảo được nhu cầu thanh toán ngày càng tăng trong nền kinh tế. Mặt khác ngân hàng thu phí dịch vụ do thực hiện nghiệp vụ thanh toán giữa các khách hàng.

Thanh toán không dùng tiền mặt có vai trò làm giảm khối lượng tiền mặt, hỗ trợ cung ứng tiền mặt, điều hoà lưu thông tiền tệ của NHNN: khối lượng tiền mặt và khối lượng tiền ghi sổ được quyết định bởi tổng giá cả hàng hoá – dịch vụ và tốc độ lưu thông tiền tệ bình quân. Vì vậy, sự vận động của tiền tệ trong nền kinh tế sẽ bao gồm sự vận động của tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt qua Ngân hàng, tức là thanh toán không dùng tiền mặt tăng thì lưu thông tiền mặt giảm và ngược lại, do NHNN là cơ quan duy nhất phát hành, kiểm soát và cung ứng tiền mặt cho nền kinh tế thông qua các kênh như nghiệp vụ thanh toán thị trường mở, tái chiết khấu, dự trữ bắt buộc, từ đó điều tiết khối lượng tiền ghi sổ tại các Ngân hàng thương mại.

Thanh toán không dùng tiền mặt gắn với sự phát triển của hệ thống tài chính – tín dụng, đặc biệt là sự phát triển của hệ thống Ngân hàng. Sự tồn tại và phát triển của hệ thống này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và cá nhân mở tài khoản tiền gửi và thanh toán tiền hàng dịch vụ thông qua việc trích chuyển tài khoản trong hệ thống này.

Như vậy, Thanh toán không dùng tiền mặt giữ một vai trò hết sức quan trọng. Đứng trên giác độ của ngành Ngân hàng, nó phản ánh khá trung thực trình độ quản lý, trình độ kỹ thuật nghiệp vụ của Ngân hàng, cũng như sự tín nhiệm của khách hàng. Trong nội bộ một Ngân hàng, Thanh toán không dùng tiền mặt không chỉ tác động đến nghiệp vụ thanh toán mà còn tác động đến các nghiệp vụ khác của Ngân hàng như nghiệp vụ tín dụng, nếu làm tốt công tác Thanh toán không dùng tiền mặt thì sẽ thúc đẩy nghiệp vụ tín dụng phát triển và ngược lại. Đi đôi với sự phát triển kỹ thuật tin học, ngày nay Ngân hàng hiện đại cũng chuyển hướng kinh doanh bằng cách mở rộng các dịch vụ tín dụng, chứ không chỉ là kinh doanh chênh lệch lãi suất tiền gửi và cho vay là chủ yếu trước đây, trong đó dịch vụ thanh toán đóng vai trò trung tâm và đặc biệt quan trọng.

Xem nhiều lời mở đầu tại đây:

===> Lời mở đầu trong luận văn thạc sĩ

1.4. Điều kiện để khách hàng tham gia vào thanh toán không dùng tiền mặt (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)

Khi tham gia vào thanh toán không dùng tiền mặt thì mọi khách hàng đều phải thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh các quy định của Ngân hàng về các thủ tục giao dịch, các giấy tờ thanh toán.  Ngân hàng sẽ cung cấp các mẫu giấy tờ cần thiết theo nhu cầu của khách hàng để họ có thể tham gia vào phương thức thanh toán này. Đối với các chứng từ này thì cần được viết theo các mẫu có sẵn của Ngân hàng và phải được ghi rõ ràng, chính xác, không được tẩy xoá, viết bằng mực không phai….

Đối với các khách hàng thường xuyên tham gia thanh toán qua Ngân hàng thì phải có tài khoản tại Ngân hàng và phải có số dư đủ để đảm bảo thanh toán và đảm bảo duy trì tài khoản.

1.4.1. Mở và sử dụng tài khoản thanh toán

Các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân sử dụng dịch vụ thanh toán (sau đây gọi chung là khách hàng) có quyền lựa chọn Ngân hàng làm dịch vụ thanh toán để mở tài khoản. Khi quyết định mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại các Ngân hàng, khách hàng thường quan tâm đến các yếu tố sau:

  • Thuận tiện trong giao dịch, tốc độ nhanh
  • Đảm bảo an toàn tài sản
  • Chi phí giao dịch hợp lý

a, Mở tài khoản

Theo thông tư số 08/TT-NH2, ngày 21/02/1994 của NHNN Việt Nam, hướng dẫn về thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt thì việc mở và sử dụng tài khoản tiền gửi phải chấp hành đúng những quy định sau:

– Đối với khách hàng là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức đoàn thể, đơn vị vũ trang:

+ Giấy đăng ký mở tài khoản do chủ tài khoản (Tổng Giám đốc, Giám đốc, thủ trưởng đơn vị, chủ doanh nghiệp) ký tên đóng dấu trong đó phải ghi rõ:

  • Tên đơn vị (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)
  • Họ tên chủ tài khoản
  • Địa chỉ giao dịch của đơn vị
  • Mã số thuế, giấy phép đăng ký kinh doanh của đơn vị.
  • Số chứng minh thư, ngày tháng năm cấp, nơi cấp của chủ tài khoản.
  • Tên NH nơi mở tài khoản

+ Bảng đăng ký mẫu dấu chữ ký để giao dịch với NH

  • Chữ ký mẫu của chủ tài khoản và người được uỷ quyền
  • Chữ ký mẫu của kế toán trưởng và người được uỷ quyền
  • Mẫu dấu của đơn vị

– Đối với khách hàng là cá nhân

+ Giấy đăng ký mở tài khoản của chủ tài khoản, trong đó ghi rõ: Họ tên của chủ tài khoản; Địa chỉ giao dịch của chủ tài khoản; Số, ngày tháng năm, nơi cấp chứng minh thư của chủ tài khoản; Tên NH nơi mở tài khoản.

+ Bảng đăng ký mẫu chữ ký của chủ tài khoản để giao dịch với NH. Đối với tài khoản là cá nhân thì không được uỷ quyền, tất cả các giấy tờ thanh toán, giao dịch với NH buộc phải là chữ ký của chủ tài khoản.

Sau khi chấp nhận mở tài khoản cho khách hàng thì NH thông báo cho khách hàng biết số hiệu tài khoản, ngày bắt đầu hoạt động của tài khoản.

b, Sử dụng tài khoản thanh toán

– Chủ tài khoản phải đảm bảo có đủ tiền trên tài khoản thanh toán tại thời điểm giao dịch thanh toán phải được thực hiện, Chịu trách nhiệm về việc chi trả vượt quá số dư Có trên tài khoản. Trừ trường hợp NH cho phép thấu chi. Ngân hàng là tổ chức tín dụng có nhận thanh toán phải duy trì trên tài khoản tiền gửi tại NHNN số dư bình quân không thấp hơn mức dự trữ bắt buộc do NHNN quy định. (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)

– Chủ tài khoản được toàn quyền sử dụng số dư tài khoản tiền gửi tại NH thông qua các lệnh thanh toán phù hợp với quy định của Ngân hàng Trung Ương. Chịu trách nhiệm về những sai sót hay hành vi lợi dụng, lừa đảo khi sử dụng dịch vụ thanh toán qua tài khoản do lỗi của mình.

– Được hưởng lãi suất cho số tiền gửi trên tài khoản theo mức lãi suất do NH quy định tùy theo đặc điểm của chủ tài khoản, số dư tài khoản và phù hợp với quy chế quản lý lãi suất của NHNN ban hành trong từng thời kỳ.

– Được yêu cầu NH cung cấp các thông tin về những giao dịch và số dư trên tài khoản của mình.

– Tuân thủ các hướng dẫn của NH nơi mở tài khoản về việc lập các lệnh thanh toán và sử dụng các phương tiện thanh toán, thực hiện giao dịch thanh toán qua tài khoản: sử dụng, luân chuyển, lưu trữ chứng từ giao dịch, đảm bảo các biện pháp an toàn trong thanh toán do NH quy định.

– Chủ tài khoản được uỷ quyền cho người khác bằng văn bản sử dụng tài khoản theo quy định của pháp luật. Người được uỷ quyền có quyền hạn và nghĩa vụ như chủ tài khoản trong phạm vi được uỷ quyền và không được uỷ quyền lại cho người thứ ba.

– Không được cho thuê, cho mượn hoặc sử dụng tài khoản của mình cho các giao dịch thanh toán đối với những khoản tiền đã có bằng chứng về nguồn gốc bất hợp pháp.

– Thông báo kịp thời cho NH nơi mở tài khoản khi phát hiện khi thấy sai sót, nhẫm lẫn trên tài khoản của mình hoặc tài khoản của mình bị lợi dụng. Cung cấp thông tin chính xác khi yêu cầu sử dụng dịch vụ thanh toán hoặc trong quá trình sử dụng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.

Trong trường hợp có đóng chủ tài khoản thì mọi giao dịch thanh toán trên tài khoản chỉ được thực hiện khi có sự chấp thuận của những người đồng chủ tài khoản.

1.4.2. Quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng và khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)

 Quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng

Ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán có quyền quy định khách hàng phải nộp phí khi nhận dịch vụ thanh toán, quy định hạn mức thấu chi đối với từng khách hàng. Yêu cầu khách hàng cung cấp các thông tin có liên quan trong quá trình sử dụng dịch vụ thanh toán, từ chối thanh toán khi khách hàng không đáp ứng đủ để sử dụng dịch vụ thanh toán, hoặc vi phạm nguyên tắc thanh toán.

Ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán có nghĩa vụ thanh toán chính xác, kịp thời và an toàn tài sản theo yêu cầu của khách hàng. Niêm yết công khai phí dịch vụ thanh toán, giữ bí mật về số dư tài khoản tiền gửi của khách hàng theo đúng quy định của pháp luật. Từ chối thực hiện các giao dịch thanh toán đã có bằng chứng về nguồn gốc bất hợp pháp. Cung cấp thông tin định kỳ hoặc đột xuất (nếu cần) cho chủ tài khoản về số dư tài khoản và các giao dịch thanh toán trên tài khoản của chủ tài khoản.

Ngân hàng chủ động trích tài khoản của khách hàng trong các trường hợp sau:

  • Các khoản nợ đến hạn, quá hạn, các khoản lãi, chi phí hợp lệ khác phát sinh trong quá trình quản lý tài khoản và cung ứng dịch vụ thanh toán theo quy định.
  • Các nghĩa vụ thanh toán theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền buộc chủ tài khoản phải thanh toán.

Các trường hợp khác theo thỏa thuận giữa NH và khách hàng.

NH có trách nhiệm phát hiện và điều chỉnh kịp thời các tài khoản mở sai hoặc sử dụng chưa chính xác. NH phải thực hiện đầy đủ, kịp thời các lệnh thanh toán, các yêu cầu sử dụng tài khoản của khách hàng phù hợp với hoặc thỏa thuận giữa NH và khách hàng. Kiểm soát các lệnh thanh toán của khách hàng, đảm bảo lập đúng thủ tục quy định, hợp pháp, hợp lệ, và khớp với đúng các yếu tố đã đăng ký; cung cấp đầy đủ, kịp thời các loại dịch vụ, phương tiện thanh toán cần thiết phục vụ nhu cầu giao dịch của khách hàng qua Ngân hàng.

Thực hiện hạch toán theo các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên cơ sở các chứng từ kế toán hợp lệ, hợp pháp nhận được. Điều chỉnh các khoản mục bị hạch toán sai, hạch toán không đúng bản chất hoặc không phù hợp với nội dung sử dụng của tài khoản theo quy định.

Quyền và nghĩa vụ của khách hàng

Khách hàng có quyền yêu cầu ngân hàng phục vụ cung cấp thông tin về số dư tài khoản và các giao dịch thanh toán của chủ tài khoản. Khiếu nại và đòi bồi thường thiệt hại do ngân hàng vi phạm các thoả thuận khi thực hiện dịch vụ thanh toán (thanh toán chậm, hoặc thanh toán không đúng số tiền, hoặc thu phí thanh toán không đúng theo quy định). Ngân hàng có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho khách hàng theo mức phạt chậm trả tối đa bằng mức lãi suất quá hạn của loại cho vay cao nhất mà Ngân hàng đang áp dụng. Số tiền phạt được tính như sau:

Số tiền phạt = Số tiền tính phạt  x  Số ngày phạt  x  Lãi suất nợ quá hạn (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)

Nếu thanh toán chậm, số ngày phạt tính từ thời điểm kết thúc thời hạn quy định cho hình thức thanh toán đến ngày tài khoản của khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán được ghi có đủ số tiền.

Nếu ghi nợ sai tài khoản hoặc ghi nợ thừa số tiền thanh toán, thì số ngày phạt tính từ thời điểm tài khoản bị ghi sai cho đến khi ngân hàng trả đủ tiền vào tài khoản của khách hàng tính trên số tiền sai thừa.

Nếu ghi sai tài khoản hoặc ghi có thiếu số tiền thanh toán, thì số ngày phạt tính từ thời điểm kết thúc quy định cho hình thức thanh toán đó đến khi tài khoản đúng hoặc số tiền sai thiếu được ghi có đủ sau khi điều chỉnh sai sót, tính trên số tiền sai thiếu.

Khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán có nghĩa vụ phải trả phí đầy đủ, đúng hạn và thực hiện đầy đủ các quy định khác của Ngân hàng. Hoàn trả Ngân hàng trong trường hợp thụ hưởng số tiền không có căn cứ pháp luật thông qua dịch vụ  thanh toán do Ngân hàng thực hiện.

XEM THÊM NHIỀU CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG LUẬN VĂN THẠC SĨ TẠI ĐÂY:

===>>> CƠ SỞ LÝ LUẬN 

2. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt

2.1. Thanh toán bằng Séc (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)

2.1.1. Khái niệm

Séc là phương tiện thanh toán do người ký phát lập dưới hình thức chứng từ theo mẫu in sẵn, nó là một tờ lệnh vô điều kiện do khách hàng của Ngân  hàng ký phát, ra lệnh cho Ngân hàng trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng.

Séc do Ngân hàng cung ứng và được thiết kế theo đúng yêu cầu của pháp luật, các ngân hàng sẽ chọn mẫu séc riêng cho hệ thông ngân hàng của mình và đăng ký in ấn với nhà in của NHNN, các chi nhánh sử dụng Séc để cung ứng cho khách hàng do Hội sở chính thống nhất in ấn và phân phối. Khách hàng mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng nào thì sẽ được Ngân hàng đó nhượng Séc lại để sử dụng.

Điều kiện khách hàng được cung ứng Séc đó là: đang được sử dụng tài khoản tiền gửi thanh toán (Current Account – AC) tại Ngân hàng; không thuộc đối tượng bị cấm sử dụng hoặc không đang trong thời gian bị đình chỉ quyền ký phát Séc; khách hàng có nhu cầu sử dụng Séc lần đầu hoặc khách hàng đã được cung ứng Séc của Ngân hàng nhưng có số lượng tờ Séc chưa thanh toán ít hơn 10 tờ/ 01 tài khoản tiền gửi thanh toán. (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)

Séc được sử dụng để thanh toán tiền hàng, dịch vụ nộp thuế, trả nợ…. hoặc rút tiền tại các chi nhánh Ngân hàng. Trong hình thức thanh toán bằng séc, việc trả tiền do người trả tiền khởi sướng và kết thúc bằng việc ghi số tiền trên tờ séc vào tài khoản của người nhận tiền.

Thời hạn xuất trình của tờ séc là trong vòng 30 ngày kể từ ngày ký phát và thời gian thanh toán séc là 6 tháng kể từ ngày ký phát séc. Nếu ngày kết thúc của thời hạn là ngày chủ nhật hoặc ngày lễ tết thì thời hạn được lùi vào ngày làm việc tiếp theo sau ngày chủ nhật hoặc lễ tết đó.

Quy định cho sử dụng séc: tờ séc cần phải điền đầy đủ các yếu tố, viết bằng mực không phai, không tẩy xoá, sửa chữa, chữ ký của chủ tài khoản phải giống chữ ký đã đăng ký với Ngân hàng; Chủ tài khoản không được ký khống trên tờ séc; Chủ tài khoản không được phép ký phát séc quá số dư, nếu vi phạm : lần 1 thì Ngân hàng sẽ nhắc nhở, lần 2 Ngân hàng sẽ thu hồi số séc chưa ký phát, bị phạt tiền, đình chỉ ký phát séc trong 6 tháng, lần 3 sẽ bị thu hồi séc, phạt tiền và bị đình chỉ ký phát séc vĩnh viễn.

Séc gồm 2 phần: mặt trước và mặt sau. Ở mặt trước của tờ Séc bao gồm các yếu tố:

  • Chữ “Séc” được in phía trên tờ Séc
  • Số Séc
  • Người thụ hưởng
  • Số tiền xác định, được ghi bằng cả chữ và số
  • Tên của người thanh toán
  • Địa điểm thanh toán
  • Ngày ký phát
  • Chữ ký (có ghi rõ họ tên) của người ký phát

Nếu như thiếu một trong các yếu tố trên thì sẽ không có hiệu lực của một tờ Séc, trừ trường hợp: nếu không ghi địa điểm thanh toán thì địa điểm thanh toán là tại địa chỉ của người thực hiện thanh toán, nếu tờ séc không ghi địa điểm thanh toán và không ghi rõ địa chỉ của người thực hiện thanh toán thì tờ séc đó được thanh toán tại trụ sở chính của người thực hiện thanh toán hoặc nếu tờ séc được thanh toán qua Trung tâm thanh toán bù trừ séc theo quy định  thì tờ séc sẽ được thanh toán tại trung tâm thanh toán bù trừ séc; nếu không ghi tên người được trả tiền thì số tiền sẽ được trả cho người cầm tờ séc đó. (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)

Mặt sau của tờ Séc được dùng để ghi nội dung chuyển nhượng.

2.1.2. Các chủ thể tham gia

Các chủ thể tham gia thanh toán Séc bao gồm:

Người ký đó là người chủ tài khoản thanh toán tại ngân hàng, là người lập và ký tên trên tờ Séc để ra lệnh cho người thực hiện thanh toán thay mặt mình trả số tiền ghi trên Séc. Nghĩa vụ của người ký phát đó là đảm bảo số tiền được sử dụng từ tài khoản tiền gửi thanh toán (số dư khả dụng) tại Ngân hàng đủ để chi trả toàn bộ số tiền ghi trên Séc cho người thụ hưởng tại thời điểm xuất trình Séc; chịu trách nhiệm về mọi thiệt hại do lỗi của mình gây ra hoặc để Séc bị lợi dụng; chấp hành đúng các quy định về cung ứng séc của pháp luật và của Ngân hàng.

Người thụ hưởng là người được hưởng số tiền ghi trên Séc, người thụ hưởng có thể là người cầm tờ séc đó có ghi tên người được trả tiền là chính mình hoặc không ghi tên người được trả tiền hoặc ghi cụm từ “Trả cho người cầm séc”, hoặc đã được chuyển nhượng bằng ký hậu cho mình thông qua dãy chữ chuyển nhượng liên tục.

Người thụ lệnh đó là Ngân hàng thực hiện việc trích tài khoản người ký phát séc trả cho người thụ hưởng.

2.1.3. Một số loại Séc thường dùng (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)

2.1.3.1. Séc chuyển khoản

a, Khái niệm

Séc chuyển khoản là tờ séc do chủ tài khoản ký phát hành và trực tiếp giao cho người thụ hưởng để thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình, nhưng khả năng thanh toán của nó phụ thuộc vào số dư trên tài khoản thanh toán tiền gửi của người ký phát.

Khi phát hành séc chuyển khoản, chủ tài khoản phải gạch 2 đường song song chéo góc hoặc viết hay đóng dấu từ “chuyển khoản” ở góc phía trên bên trái mặt trước tờ séc trước khi giao cho người thụ hưởng.

Séc chuyển khoản chỉ được sử dụng trong thanh toán chuyển khoản giữa các khách hàng mở tài khoản tại một Ngân hàng hoặc hai Ngân hàng nhưng phải cùng tham gia thanh toán bù trừ. Về nguyên tắc thì thanh toán séc chuyển khoản phải được thanh toán dựa trên cơ sở số dư tài khoản tiền gửi hiện có tại ngân hàng, trong trường hợp nếu có nhiều tờ séc cùng nộp vào Ngân hàng tại một thời điểm nhưng số dư tài khoản không đủ để thanh toán tất cả những tờ séc thì Ngân hàng phải ưu tiên thanh toán theo thứ tự các tờ séc phát hành trước sẽ được thanh toán trước. Nếu tài khoản tiền gửi không đủ tiền để thanh toán (séc phát hành quá số dư tài khoản tiền gửi) séc sẽ bị Ngân hàng từ chối thanh toán, chủ tài khoản phải chịu trách nhiệm thanh toán tờ séc đó và những khoản tiền phạt chi phí phát sinh liên quan đến việc khiếu nại và khởi kiện (nếu có).

b, Quy trình thanh toán séc chuyển khoản

– Trường hợp khách hàng mở tài khoản cùng Ngân hàng

Sơ đồ (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)

2.1.3.1.1: Quy trình luân chuyển chứng từ thanh toán séc chuyển khoản giữa 2 khách hàng cùng chi nhánh.

(1) Đơn vị bán cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho bên mua theo hợp đồng ký trước

(2) Đơn vị mua ký phát hành séc thanh toán cho bên hàng hoá, dịch vụ

(3) Đơn vị bán chuyển Séc tới Ngân hàng để được thanh toán,

(4) Ngân hàng ghi giảm tài khoản của người mua (Báo nợ)

(5) Ngân hàng ghi tăng tài khoản của người bán (Báo có)

– Trường hợp khách hàng mở tài khoản ở 2 ngân hàng

Sơ đồ 2.1.3.1.2: Quy trình luân chuyển chứng từ thanh toán séc chuyển khoản giữa 2 khách hàng khác chi nhánh.

(1) Đơn vị bán cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho bên mua theo hợp đồng ký trước

(2) Đơn vị mua ký phát hành séc thanh toán cho bên hàng hoá, dịch vụ.

(3) Đơn vị bán chuyển Séc tới NH phục vụ mình để được thanh toán

(4) NH phục vụ người bán chuyển séc và BKNS cho NH phục vụ người mua

(5) NH phục vụ người mua thanh toán chuyển tiền cho NH phục vụ người bán

(6) NH phục vụ người mua ghi giảm tài khoản của người mua

(7) NH phục vụ người bán ghi tăng tài khoản cho người bán và báo Có cho người bán.

Nhận xét: với những đặc điểm trên thì séc chuyển khoản có những ưu, khuyết điểm sau:

Ưu điểm của séc chuyển khoản là: dễ phát hành, thủ tục thanh toán đơn giản, người phát hành séc không phải đến NH làm thủ tục.

Nhược điển: Phương thức này người thụ hưởng sẽ nhận được séc chuyển khoản ngay sau khi giao hàng, nhưng séc chuyển khoản ở đây mới chỉ được coi như là giấy hứa trả còn việc người bán có nhận được đủ số tiền hay không còn phụ thuộc vào số dư trên tài khoản tiền gửi của người mua. Kinh nghiệm thực tế cho thấy nếu tài khoản tài gửi của người mua không đủ số dư thì thường gây ắc tắc trong việc thanh toán.

2.1.3.2. Séc bảo chi

a, Khái niệm

Séc bảo chi là loại séc được NH bảo đảm khả năng chi trả  bằng cách trích trước số tiền ghi trên tờ séc từ tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản tiền vay, để lưu ký trên một tài khoản riêng nhằm đảm bảo thanh toán cho tờ séc, Séc bảo chi được sử dụng trong trường hợp hai bên mua – bán không tín nhiệm nhau trong thanh toán. Khách hàng muốn sử dụng séc bảo chi phải lập các liên uỷ nhiệm chi (kèm theo chuyển khoản nếu bảo chi thường xuyên) gửi vào NH. Sau khi kiểm tra các yếu tố hợp lệ NH tiến hành trích chuyển tài khoản đóng dấu bảo đảm chi trả lên tờ séc chuyển khoản và trả lại cho khách hàng.

Séc bảo chi có phạm vi thanh toán rộng hơn séc chuyển khoản, ngoài việc sử dụng để thanh toán cho các chủ thể mở tài khoản cùng một chi nhánh ngân hàng, tại hai ngân hàng cùng tham gia thanh toán bù trừ trên phạm vi tỉnh, thành phố thì séc bảo chi còn được sử dụng để thanh toán giữa khách hàng mở tài khoản tại chi nhánh khách hàng cùng hệ thống trong phạm vi cả nước.

Do séc bảo chi đã được ngân hàng đảm bảo khả năng chi trả nên sau khách hàng khi nộp séc vào ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng thì Ngân hàng này sau khi kiểm tra tính hợp lệ của séc thì có thể ghi có ngay vào tài khoản người thụ hưởng. Nếu do sơ suất khi kiểm tra, sau này phát hiện séc không hợp lệ thì ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng phải chịu trách nhiệm.

b, Quy trình thanh toán (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)

– Trường hợp khách hàng mở tài khoản cùng một NH

Sơ đồ 1.2.1.3.2.1: Quy trình luân chuyển chứng từ thanh toán séc bảo chi giữa 2 khách hàng cùng chi nhánh.

(1) Người trả tiền làm thủ tục bảo chi séc

1a, Người trả tiền lập 2 liên giấy “yêu cầu bảo chi séc” kèm tờ séc đã ghi đầy đủ các yếu tố nộp vào NH để xin bảo chi séc.

1b, NH đối chiếu giấy “yêu cầu bảo chi séc” và tờ séc, số dư tài khoản của người phát hành, nếu đủ điều kiện thì tiến hành trích tiền từ tài khoản chuyển vào tài khoản đảm bảo thanh toán séc. Sau đó đóng dấu “bảo chi” lên tờ séc và giao cho khách hàng

(2) Người trả tiền giao séc cho người thụ hưởng để nhận hàng hoá, dịch vụ.

(3) Người thụ hưởng lập BKNS kèm các tờ séc nộp vào NH xin thanh toán

(4) NH kiểm tra ký hiệu mật trên tờ séc và các yếu tố cần thiết sau đó ghi Có vào tài khoản tiền gửi và báo Có cho người thụ hưởng.

– Trường hợp khách hàng mở tài khoản tại 2 NH

Sơ đồ 2.1.3.2.2: Quy trình luân chuyển chứng từ thanh toán séc bảo chi giữa 2 khách hàng khác chi nhánh.

(1) Người trả tiền làm thủ thục bảo chi séc (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)

(2) Người trả tiền giao séc cho người thụ hưởng để nhận hàng hoa, dịch vụ

(3) Khi nhận tờ séc bảo chi, người thụ hưởng phải kiểm tra các yếu tố, đặc biệt yếu tố bảo chi séc, tiến hành lập bảng kê kèm tờ séc nộp vào NH phục vụ mình nhờ thu hộ tiền

(4) NH kiểm tra các yếu tố cần thiết, tiến hành ghi Có vào tài khoản gửi thanh toán số tiền ghi trên séc và báo Có cho người thụ hưởng, đồng thời chuyển các chứng từ sang cho NH phục vụ người mua (người trả tiền)

(5) NH phục vụ người trả tiền thực hiện thanh toán tất toán tài khoản “đảm bảo thanh toán séc”.

Nhận xét: Với những đặc điểm trên thì séc bảo chi có những ưu và nhược điểm sau:

Ưu điểm: sử dụng hình thức thanh toán này thì có lợi cho người thụ hưởng vì họ chức chắn nhận được tiền, quá trình thanh toán được nhanh chóng vì Ngân hàng đã bảo chi séc.

Nhược điểm: với phương thức này thì người phát hành séc phải đến ngân hàng làm thủ tục bảo chi và lưu ký tiền trên tài khoản không được hưởng lãi; phạm vi thanh toán chỉ trong nội tỉnh và nếu khác NH phải tham gia thanh toán bù trừ và thanh toán trong hệ thông NH.

2.1.3.3. Séc lĩnh tiền mặt

Séc lĩnh tiền mặt là loại séc chỉ dùng để rút tiền mặt tại NH nơi khách hàng mở tài khoản. Séc dùng để lĩnh tiền mặt không có hai đường song song chéo góc ở phía trên bên trái hoặc không có chữ “chuyển khoản” ở mặt trước tờ séc.

Thủ tục phát hành séc lĩnh tiền mặt: Người phát hành séc phải ghi rõ tên của pháp nhân (hoặc cá nhân), địa chỉ, số hiệu tài khoản, tên NH giữ tài khoản của người thụ hưởng vào vị trí quy định trên tờ séc.

Cách thanh toán: Khi lĩnh tiền, người lĩnh tiền phải nộp tờ séc lĩnh tiền mặt vào Ngân hàng nơi người phát hành séc mở tài khoản. Khi nhận được tờ séc lĩnh tiền mặt và giấy uỷ quyền lĩnh tiền mặt (nếu có), cán bộ Ngân hàng làm thủ tục chi tiền theo chế độ hiện hành.

Xem thêm nhiều bài luận văn mẫu khác tại đây:

===> Luận văn thạc sĩ Tài Chính Ngân Hàng

2.2. Thanh toán bằng lệnh chi – uỷ nhiệm chi

2.2.1. Khái niệm (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)

Lệnh chi hay uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền do chủ tài khoản lập theo mẫu của ngân hàng để yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình trích một số tiền nhất định từ tài khoản tiền gửi của mình để trả cho người thụ hưởng có tên trên lệnh chi hoặc uỷ nhiệm chi.

Uỷ nhiệm chi hay lệnh chi được áp dụng trong thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, nộp thuế, trả nợ hoặc chuyển tiền của người sử dụng dịch vụ thanh toán tại một chi nhánh Ngân hàng hoặc giữa các chi nhánh, cùng hoặc khác hệ thống trong phạm vi cả nước. Trong vòng một ngày làm việc khi nhận được uỷ nhiệm chi Ngân hàng phải thực hiện ngay yêu cầu đó của chủ tài khoản, nếu uỷ nhiệm chi hợp lệ và số dư trên tài khoản đủ để thực hiện. Đây là hình thức thanh toán đơn giản, nhanh chóng nên nó thường chiếm tỷ trọng lớn.

Trường hợp hai chủ thể thanh toán mở tài khoản tại hai Ngân hàng thì đơn vị bán sau khi giao hàng cho đơn vị mua, đơn vị mua sẽ lập UNC gửi đến Ngân hàng phục vụ mình. Tại Ngân hàng phục vụ đơn vị mua sau khi kiểm tra tính hợp lệ của chứng từ sẽ tiến hành ghi nợ và chuyển theo liên hàng (nếu hai Ngân hàng cùng hệ thống) hoặc chuyển sang tài khoản thanh toán bù trừ (nếu hai Ngân hàng khác hệ thống nhưng tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn) trong ngày làm việc.

2.2.2. Các trường hợp sử dụng uỷ nhiệm chi (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)

– Dùng lệnh chi hay uỷ nhiệm chi để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ: khi thực hiện số tiền của lệnh chi được chuyển thẳng vào tài khoản thanh toán của người thụ hưởng.

– Dùng trực tiếp lệnh chi (uỷ nhiệm chi) để chuyển tiền đứng tên người thụ hưởng: chuyển trả vào tài khoản của người thụ hưởng hoặc trả cho người thụ hưởng qua tài khoản “chuyển tiền phải trả”.

– Chủ tài khoản dùng lệnh chi (uỷ nhiệm chi) để chuyển tiền đề nghị tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phục vụ mình phát hành séc chuyển tiền cầm tay.

2.2.3. Quy trình thanh toán uỷ nhiệm chi

– Trường hợp khách hàng mở tài khoản tại cùng 1NH

Sơ đồ 1.2.2.3.1: Quy trình luân chuyển chứng từ thanh toán UNC giữa 2 khách hàng cùng chi nhánh.

(1) Người thụ hưởng (người bán) cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho người mua.

(2) Người mua (người trả tiền) nộp UNC vào NH yêu cầu NH trích tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng.

(3) NH kiểm tra UNC, số dư tài khoản tiền gửi của người trả tiền, nếu hợp lệ thì tiến hành trích tài khoản tiền gửi và báo Nợ cho người trả tiền.

(4) NH ghi Có vào tài khoản tiền gửi của người thụ hưởng và báo Có cho họ.

– Trường hợp khách hàng mở tài khoản tại 2 NH (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)

Sơ đồ 1.2.2.1.2: Quy trình luân chuyển chứng từ thanh toán UNC giữa 2 khách hàng khác chi nhánh.

(1) Người bán cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho người mua.

(2) Người mua lập UNC nộp vào NH phục vụ mình yêu cầu trích tài khoản của mình để thanh toán cho người thụ hưởng.

(3) NH phục vụ người mua kiểm tra UNC, số dư tài khoản, sau đó tiến hành ghi Nợ vào tài khoản người mua, rồi báo Nợ cho người mua. Đồng thời, chuyển tiền sang cho NH phục vụ người bán.

(4) NH phục vụ người bán ghi Có vào tài khoản người bán và báo Có cho họ.

Trường hợp người thụ hưởng chưa mở tài khoản tiền gửi tại bất cứ NH nào đó thì NH phục vụ người thụ hưởng ghi Có vào tài khoản phải trả khách hàng và báo cho người thụ hưởng đến nhận tiền.

Nhận xét: UNC hay lệnh chi có ưu điểm là rất đơn giản, tiết kiệm chi phí, thuận tiện cho khách hàng sử dụng và thuận tiện trong việc ứng dụng công nghệ thanh toán hiện đại, nên tốc độ thanh toán nhanh, phạm vi rộng rãi. Đây là hình thức thanh toán chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh số thanh toán qua NH. Hình thức thanh toán này không đảm bảo quyền lợi cho người bán vì bên bán có thể gặp rủi ro do bên mua không đủ khả năng thanh toán, do vậy người ta chỉ áp dụng hình thức thanh toán UNC trong trường hợp bên bán và bên mua tín nhiệm nhau, thanh toán các món nhỏ hoặc thanh toán phi mậu dịch.

2.3. Thanh toán bằng nhờ thu – uỷ nhiệm thu (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)

2.3.1. Khái niệm

Uỷ nhiệm thu là giấy uỷ nhiệm do khách hàng lập theo mẫu của Ngân hàng để uỷ nhiệm cho NH thu hộ tiến từ bên chi trả sau khi đã cung cấp hàng hoá, dịch vụ.

Đặc điểm của UNT là: UNT được áp dụng trong trường hợp thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ giữa các chủ thể mở tài khoản tại cùng một NH hoặc các chi nhánh NH cùng hệ thống hoặc khác hệ thống; UNT là do bên bán lập và gửi vào NH phục vụ mình để nhờ thu hộ số tiền trên cơ sở khối lượng hàng hoá đã giao, dịch vụ đã cung cấp; Khách hàng mua và bán phải thống nhất thoả thuận dùng hình thức thanh toán UNT với những điều kiện thanh toán cụ thể đã ghi trong hợp đồng kinh tế, đồng thời phải thông báo bằng văn bản cho NH phục vụ mình biết để làm căn cứ thực hiện UNT.

Khi nhận được giấy UNT trong vòng 1 ngày làm việc NH phục vụ bên trả tiền phải trích tài khoản của bên trả tiền cho bên thụ hưởng để hoàn tất thanh toán.

2.3.2. Quy trình thanh toán uỷ nhiệm thu

– Trường hợp khách hàng mở tài khoản tại cùng một NH

Sơ đồ 2.3.2.1: Quy trình luân chuyển chứng từ thanh toán UNT giữa 2 khách hàng cùng chi nhánh.

(1) Người bán giao hàng hoá, dịch vụ cho người mua

(2) Người bán nộp UNT vào NH nhờ thu hộ tiền (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)

(3) NH kiểm tra các chứng từ thanh toán, căn cứ vào hợp đồng kinh tế (đơn đặt hàng) và bộ chứng từ để ghi Nợ cho người mua và báo Nợ cho người mua

(4) NH ghi Có cho người bán và báo Có cho người bán 

Trường hợp khách hàng mở tài khoản tại hai chi nhánh NH cùng hệ thống hoặc khác hệ thống

Sơ đồ 2.3.2.2: Quy trình luân chuyển chứng từ thanh toán UNT giữa 2 khách hàng khác chi nhánh

(1) Người bán cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho người mua.

(2) Người bán lập UNT kèm theo hoá đơn bán hàng nộp vào NH phục vụ mình nhờ thu hộ số tiền hàng.

(3) NH phục vụ người bán sau khi kiểm tra chứng từ, NH ghi ngày tháng nhận chứng từ, ký tên đóng dấu lên UNT vào sổ theo dõi UNT rồi gửi bộ chứng từ sang cho NH phục vụ người mua.

(4) NH phục vụ người mua kiểm tra các yếu tố cần thiết trên UNT, kiểm tra khả năng thanh toán của người mua, nếu đủ điều kiện thi ghi Nợ vào tài khoản tiền gửi thanh toán và báo Nợ cho người mua.

(5) NH phục vụ người mua chuyển trả tiền đã thu được sang cho NH phục vụ người bán.

(6) NH phục vụ người bán  ghi Có tài khoản tiền gửi và báo Có cho người bán.

Nhận xét: UNT có ưu điểm là tương đối đơn giản, rất thuận tiện đối với các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ như: điện, nước, thuê nhà, điện thoại…. các chủ thể tham gia trong thanh toán tin tưởng lẫn nhau. Tuy nhiên, hình thức thanh toán này còn có hạn chế là đến hạn thanh toán nếu trên tài khoản người trả tiền không đủ số dư để thanh toán sẽ dẫn tới hiện tượng chậm trả tiền cho người thụ hưởng và lúc này người trả tiền sẽ bị phạt.

2.4. Thanh toán bằng thẻ Ngân hàng (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)

2.4.1. Khái niệm

Thẻ Ngân hàng là công cụ thanh toán do Ngân hàng phát hành và bán cho khách hàng sử dụng để trả tiền hàng hoá, dịch vụ và các khoản thanh toán khác hoặc rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động.

Để được sử dụng thẻ Ngân hàng, khách hàng phải thực hiện các thủ tục đăng ký sử dụng thẻ và đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của Ngân hàng phát hành thẻ. Sau khi được Ngân hàng phát hành thẻ chấp thuận, khách hàng phải đăng ký hợp đồng sử dụng thẻ với Ngân hàng.

2.4.2. Phân loại

Có rất nhiều cách phân loại tuy nhiên theo tính chất thanh toán thì thẻ Ngân hàng bao gồm:

– Thẻ ghi nợ: là loại thẻ gắn liền với tài khoản tiền gửi thanh toán hay tài khoản séc của khách hàng. Khách hàng sử dụng loại thẻ này thì giá trị giao dịch được khấu trừ ngay vào tài khoản của khách hàng, đồng thời ghi có ngay vào tài khoản của người thụ hưởng.

– Thẻ tín dụng: là loại thẻ được sử dụng phổ biến, Ngân hàng cho phép chủ thẻ sử dụng một hạn mức nhất định. Đối với những khách hàng có quan hệ thường xuyên với Ngân hàng, có tình hình tài chính tốt, luôn đảm bảo khả năng thanh toán thì Ngân hàng cho phép sử dụng thẻ tín dụng. (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)

– Thẻ rút tiền mặt: với chức năng chuyên biệt chỉ để rút tiền mặt nên chủ thẻ phải ký quỹ một số tiền bằng số tiền trên thẻ. Hiện nay, thẻ ATM dùng để rút tiền tại các máy ATM, chủ thẻ có thể thực hiện giao dịch thanh toán các chi phí như điện, nước, điện thoại….

Thẻ thanh toán phải có đầy đủ các yếu tố sau:

  • Tên chủ thẻ
  • Tên Ngân hàng phát hành
  • Số thẻ
  • Nhãn hiệu thương mại
  • Thời hạn sử dụng thẻ (nếu có)

Các chủ thể tham gia vào thanh toán thẻ gồm có:

Ngân hàng phát hành thẻ là NH bán thẻ cho khách hàng, chịu trách nhiệm thanh toán số tiền do người sử dụng thẻ cho người thụ hưởng. Ngân hàng phát hành thẻ có thể ủy nhiệm cho một số chi nhánh NH phát hành và quản lý thẻ.

Người sử dụng thẻ: là người trực tiếp mua thẻ tại NH hoặc người được chuyển nhượng thẻ và dùng thẻ để mua hàng hóa, dịch vụ.

Người tiếp nhận thanh toán bằng thẻ là các doanh nghiệp cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho người sử dụng thẻ.

Ngân hàng đại lý thanh toán: là các chi nhánh NH do NH phát hành thẻ quy định, NH đại lý có trách nhiệm thanh toán cho người tiếp nhận thanh toán bằng thẻ khi nhận được biên lai thanh toán.

2.4.3. Quy trình thanh toán thẻ (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)

Sơ đồ 2.4.3.1: Quy trình luân chuyển chứng từ thanh toán thẻ

(1a) Khách hàng lập và gửi đến NH phát hành thẻ giấy đề nghị phát hành thẻ.

(1b) Căn cứ giấy đề nghị phát hành thẻ của khách hàng, sau khi kiểm tra thủ tục và các điều kiện sử dụng thẻ của khách hàng, nếu đủ điều kiện NH phát hành thẻ làm thủ tục cấp thẻ cho khách hàng và hướng dẫn khách hàng sử dụng thẻ khi thanh toán. NH phát hành thẻ sẽ quản lý và giữ bí mật tuyệt đối về mật mã sử dụng thẻ của khách hàng.

(2) Chủ sở hữu thẻ giao thẻ cho cơ sở chấp nhận thẻ để kiểm tra, đưa thẻ vào máy thanh toán thẻ, máy tự động ghi số tiền thanh toán và in biên lai thanh toán.

(3) Cơ sở chấp nhận thẻ giao thẻ và 1 liên biên lai thanh toán cho chủ sở hữu thẻ

(4) Cơ sơ chấp nhận thẻ lập bảng kê biên lai thanh toán và gửi cho NH đại lý thanh toán để thanh toán.

(5) Nhận được biên lai thanh toán kèm theo bảng kê biên lai thanh toán do cơ sở chấp nhận thẻ gửi đến sau khi kiểm tra điều kiện thanh toán, NH đại lý thanh toán ngay cho cơ sơ chấp nhận thẻ bằng thẻ. (Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt)

(6) NH đại lý thanh toán thẻ thanh toán với NH phát hành thẻ (qua thủ tục thanh toán giữa các NH).

Nhận xét: Thẻ thanh toán là hình thức thanh toán tiên tiến, có độ an toàn cao, thanh toán nhanh, văn minh, thuận tiện, là loại phương tiện thanh toán dễ bảo quản, cất giữ khi mang theo. Thủ tục cấp thẻ dễ dàng, nếu phải ký quỹ thì được hưởng lãi suất tiền gửi không kỳ hạn. Có nhiều loại thẻ để khách hàng lựa chọn.

DOWNLOAD FILE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Chat Zalo
Chat Facebook
0932091562