Cơ Sở Lý Luận Thẩm Định Tài Sản Đảm Bảo Cho Vay Khách Hàng

Rate this post

Tải miễn phí mẫu Cơ Sở Lý Luận Thẩm Định Tài Sản Đảm Bảo Cho Vay Khách Hàng cho các bạn đang làm luận văn thạc sĩ ngành Tài chính Ngân Hàng, còn rất nhiều nội dung tham khảo về Cơ Sở Lý Luận Thẩm Định Tài Sản Đảm Bảo Cho Vay Khách Hàng, các bạn có thể tham khảo tại các bài viết tiếp theo của Luận văn Panda.

Lưu ý: Trong quá trình làm đề tài luận văn thạc sĩ Tài Chính Ngân Hàng, nếu các bạn không có thời gian làm bài, hay những khó khăn khác có thể liên hệ với Dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ của bên mình để được hỗ trợ làm bài qua:

SĐT/ZALO: 0932.091.562

MẪU KHÁI NIỆM, CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG LUẬN VĂN THẠC SĨ
Mục lục ẩn

1.1 Khái niệm và đặc điểm khách hàng doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng Thương Mại

Theo Luật doanh nghiệp số 68/2019/QH13: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh”. (Cơ Sở Lý Luận Thẩm Định Tài Sản Đảm Bảo Cho Vay Khách Hàng)

Theo Lê Văn Tư (2005) Khách hàng doanh nghiệp vay vốn tại NHTM có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, khách hàng doanh nghiệp vay vốn tại NHTM rất đa dạng về ngành nghề, đối tượng kinh doanh và tập trung chủ yếu ở khu vực thành thị.

Thứ hai, Tại Việt Nam các doanh nghiệp vay vốn chủ yếu là doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, có tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý linh hoạt, gọn nhẹ, các quyết định quản lý thực hiện nhanh, công tác kiểm tra, điều hành trực tiếp, qua đó góp phần tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp. Các doanh nghiệp này năng động, linh hoạt trước những thay đổi của thị trường, có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh. Vốn đầu tư ban đầu của các doanh nghiệp này ít, hiệu quả cao, thu hồi nhanh, điều đó tạo nên sức hấp dẫn trong đầu tư sản xuất kinh doanh. Khách hàng doanh nghiệp vay vốn tại NHTM chủ yếu là doanh nghiệp phi nhà nước, thuộc loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.

Xem Thêm chi tiết về quy trình làm luận văn và bảng giá viết thuê luận văn thạc sĩ tại đây:

===> Bảng Giá viết luận văn thạc sĩ

1.2. Khái niệm và đặc điểm (Cơ Sở Lý Luận Thẩm Định Tài Sản Đảm Bảo Cho Vay Khách Hàng)

  1. Khái niệm

Cho vay doanh nghiệp là một hình thức cấp tín dụng, theo đó NHTM giao cho doanh nghiệp một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả vốn lẫn lãi.

  1. Đặc điểm

Cho vay đối với doanh nghiệp là một trong những mục tiêu, chiến lược phát triển tín dụng của các NHTM hiện nay. Theo Phan Thị Cúc (2007) thì đối tượng khách hàng khác nhau, việc cho vay sẽ có những đặc điểm khác nhau, về cơ bản việc cho vay đối với những khách hàng doanh nghiệp có những đặc điểm sau:

  • Cho vay doanh nghiệp với nhu cầu vay đa dạng và chủ yếu là phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
  • Cho vay doanh nghiệp tạo ra thu nhập c iếm tỷ trọng cao trong các hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng.
  • Số lượng khách hàng doanh nghiệp vay vốn tại NHTM thường ít hơn so với các đối tượng khách hàng khác như cá nhân, hộ sản xuất kinh doanh nhưng quy mô vốn vay thì lớn hơn.
  • Với quy mô vốn vay lớn nên khi xảy ra rủi ro trong hoạt động cho vay doanh nghiệp, mức độ thiệt hại lớn hơn.
  • Cho vay doanh nghiệp thường chịu ảnh hưởng lớn của nền kinh tế vĩ mô vá các chính sách về tài chính, tiền tệ.
  • Đặc điểm cho vay khách hàng doanh nghiệp là dễ dàng trong thu thập thông tin với nhiều kênh thông tin có thể khai thác được giúp ngân hàng thuận tiện trong việc ra quyết định cho vay.

1.3 Hoạt động đảm bảo tiền vay bằng tài sản của ngân hàng thương mại

1.3.1 Khái niệm đảm bảo tiền vay (Cơ Sở Lý Luận Thẩm Định Tài Sản Đảm Bảo Cho Vay Khách Hàng)

Tại Việt Nam, theo nghị định của Chính phủ số 178/1999/NĐ – CP ngày 29/12/1999 của Chính Phủ về việc đảm bảo tiền vay cho các Tổ chức tín dụng được sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 85/2002/NĐ – CP ngày 25/10/2002 về đảm bảo tiền vay của các tổ chức tín dụng thì” Đảm bảo tiền vay là việc tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay”

Đứng trên góc độ của người vay, đảm bảo tiền vay có những đặc trưng cơ bản sau:

Giá trị của đảm bảo phải lớn hơn nghĩa vụ được đảm bảo: đảm bảo tiền vay không chỉ là nguồn thu nợ của ngân hàng mà còn có ý nghĩa thúc dục người đi vay phải trả nợ, nếu không họ sẽ mất tài sản. Nhưng nếu giá trị của tài sản nhỏ hơn nghĩa vụ được đảm bảo thì người vay dễ có động cơ không trả nợ.

Tài sản phải có sẵn thị trường tiêu thụ: mức độ thanh khoản của tài sản có quan hệ đến lợi ích của người cho v y. Mức độ thanh khoản thấp hay nói cách khác là tài sản khó bán thường khó được ngân hàng chấp nhận. Mức độ thanh khoản trung bình có th ể chấp nhận được nhưng phải tính đến chi phí do kéo dài thời gian xử lý.

Tài sản phải có đầy đủ cơ sở pháp lý để người cho vay có quyền ưu tiên về xử lý tài sản. Đặc trưng này thể hiện được các mặt sau: tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người đi vay hoặc người bảo lãnh và được pháp luật cho phép giao dịch, đồng thời phải có đủ cơ sở pháp lý để ngân hàng – chủ thể cho vay được quyền ưu tiên xử lý tài sản nhằm thu nợ khi người đi vay không thanh toán đúng hạn.

1.3.2 Các hình thức đảm bảo tiền vay

Khách hàng đến với ngân hàng ngày càng đa dạng với nhu cầu ngày càng cao, do đó để phục vụ tốt hơn các ngân hàng cần sử dụng linh hoạt các hình thức bảo đảm tiền vay. Mặt khác, mức độ rủi ro của mỗi khoản vay là khác nhau phụ thuộc vào các yếu tố như: thời gian, mục đích sử dụng vốn vay, tư cách của chủ thể vay vốn,… nên đối với mỗi khoản vay, ngân hàng sẽ đưa ra biện pháp bảo đảm tiền vay thích hợp. Theo Phan Thị Cúc (2007) thì ngân hàng thực hiện bảo đảm tiền vay theo một trong các hình thức dưới đây:

NHTM có hai hình thức bảo đảm tiền vay: Bảo đảm tiền vay không b ằng tài sản và bảo đảm tiền vay bằng tài sản.

  1. Đảm bảo tiền vay không bằng tài sản (Cơ Sở Lý Luận Thẩm Định Tài Sản Đảm Bảo Cho Vay Khách Hàng)

Là đảm bảo bằng uy tín và năng lực tài chính của người đi vay hay người bảo lãnh mà không đòi hỏi phải có tài sản đảm bảo cho các khoản vay của người đi vay hay của bên bảo lãnh. Hình thức này thường thường được cấp cho khách hàng có uy tín, tình hình tài chính tốt, có quan hệ tín dụng lâu năm tại ngân hàng.

  1. Đảm bảo tiền vay bằng tài sản

Là việc bên vay vốn dùng tài sản thuộc sở hữu của mình hoặc tài sản thuộc sở hữu bên thứ ba để bảo đảm với bên vay về khả năng hoàn trả nợ vay của mình.

Đảm bảo tín dụng bằng tài sản có thể thực hiện bằng nhiều cách, bao gồm bằng thế chấp tài sản, đảm bảo bằng cầm cố tài sản, đảm bảo bằng tài sản hình thành trong tương lai và đảm bảo tài sản của bên thứ ba.

Đảm bảo tiền vay bằng thế chấp tài sản: Là việc bên vay vốn thế chấp tài sản của mình cho bên cho vay để đảm bảo khả năng hoàn trả vốn vay. Thế chấp tài sản là việc bên đi vay sử dụng bất động sản, động sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên cho vay. Khi thế chấp tài sản, người thế chấp không chuyển giao tài sản cho ngân hàng mà chỉ chuyển giao giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng tài sản.

Đảm bảo tiền vay bằng cầm cố tài sản: Là việc bên đi vay giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên cho vay để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ, khi cầm cố tài sản phải được giao nộp cho bên cho vay.

Đảm bảo tiền vay bằng tài sản hình thành trong tương lai: Là việc khách hàng dùng tài sản hình thành trong tương lai để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoản vay đó. Bảo đảm bằng tài sản hình thành trong tương lai thực chất cũng là bảo đảm bằng cầm cố, thế chấp tài sản nhưng chỉ khác là tại thời điểm giao dịch bảo đảm, tài sản đó chưa được hình thành mà nó được hình thành trong quá trình sử dụng vốn vay.

Đảm bảo tiền vay bằng tài sản của bên thứ ba: Là việc bên thứ ba cam kết với ngân hàng cho vay về việc sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho khách hàng vay, nếu đến hạn trả nợ mà khách hàng vay không th ực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.

Xem nhiều lời mở đầu tại đây:

===> Lời mở đầu trong luận văn thạc sĩ

1.2 Quy trình thực hiện các nghiệp vụ đảm bảo tiền vay bằng tài sản (Cơ Sở Lý Luận Thẩm Định Tài Sản Đảm Bảo Cho Vay Khách Hàng)

Bước 1: Nhận và kiểm tra hồ sơ bảo đảm

Bộ phận tín dụng là đầu mối tiếp xúc và hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ tài sản bảo đảm. Trong quá trình này, bộ phận tín dụng có trách nhiệm xác minh sơ bộ tính pháp lý, mức độ khả dụng tài sản có phù hợp với điều kiện nhận bảo đảm tại ngân hàng và quy định pháp luật, trong trường hợp:

-Tài sản không đủ điều kiện: Thông báo cho khách hàng và đề nghị đổi tài sản khác.

Tài sản đủ điều kiện: Bộ phận tín dụng gửi giấy đề nghị định giá tài sản (kèm bản sao các giấy tờ sở hữu tài sản) cho bộ phận định giá.

Bước 2: Thẩm định tài sản bảo đảm

  • Thẩm định tài sản bảo đảm là một khâu hết sức quan trọng, nó là khâu quy ết định mức cho vay. Căn cứ để thẩm định bao gồm:
  • Hồ sơ tài liệu và thông tin do khách  hàng cung cấp
  • Cán bộ tín dụng khảo sát thực tế, khẳng định lại các thông tin thu thập được từ khách hàng và phát hi ện những vấn đề mới cần thẩm định tiếp.
  • Các cơ quan có thẩm quyền cấp các loại giấy tờ liên quan tới tài sản bảo đảm.
  • Các nguồn thông tin khác: chính quyền địa phương, ông an, tòa án, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, các ngân hàng khác… xem xét tính hợp pháp của tài sản bảo đảm, có thuộc loại tài sản cấm hay không?
  • Tài sản có đang cầm cố, thế chấp ở một tổ chức tín dụng khác không?
  • Có bị tranh chấp pháp lý hay không?

Thẩm định về tính sở hữu của tài sản: Phải trả lời được câu hỏi, tài sản thuộc sở hữu của ai?

Đối với loại có đăng ký quyền sở hữu thì việc thẩm định tính sở hữu của tài sản bảo đảm thông qua việc kiểm tra giấy tờ sở hữu tài sản. Còn đối với những loại tài sản bảo đảm không đăng ký quyền sở hữu thì ngân hàng cần xem xét tính sở hữu của tài sản bảo đảm từ các nguồn thông tin khác như: tham khảo ý kiến của trung tâm phòng ngừa rủi ro, các người cư trú gắn với tài sản bảo đảm tiền vay…

Thẩm định tính hiện hữu của tài sản: Tài sản có thực sự tồn tại hay không? Về số lượng, chất lượng như thế nào?

Thẩm định iá trị của tài sản: Giá trị tài sản là bao nhiêu? Bộ phận định giá thông báo cho bộ phận tín dụng thời gian đi định giá và yêu cầu bổ sung hồ sơ tài sản (nếu có). Bộ phận tín dụng hẹn khách hàng thời gian định giá và đề nghị khách (Cơ Sở Lý Luận Thẩm Định Tài Sản Đảm Bảo Cho Vay Khách Hàng)

hàng chuẩn bị hồ sơ khi cán bộ ngân hàng xuống hiện trường định giá.

Thẩm định khả năng phát mại của tài sản: Tính thanh khoản của tài sản đó như thế nào? Thị trường tiêu thụ hiện tại như thế nào? Dự đoán trong tương lai, có nhi ều loại tài sản khác thay thế hay không?

Bước 3: Lập hợp đồng bảo đảm

Sau khi thẩm định, hai bên đã thỏa thuận được các điều kiện về tín dụng, bộ phận tín dụng có nhiệm vụ soạn thảo hợp đồng bảo đảm tiền vay trình giám đốc hoặc người được ủy quyền ký. Hợp đồng được lập thành 3 bản chính, khách hàng giữ 01 bản, ngân hàng giữ 02 bản được lưu ở phòng tín dụng và Ngân quỹ mỗi nơi một bản. Tùy theo từng hình thức và loại tài sản bảo đảm mà hợp đồng bảo đảm có thể nằm trong hợp đồng tín dụng hoặc có thể lập thành hợp đồng bảo đảm riêng. Đối với tài sản bảo đảm hình thành từ vốn vay, khi tài sản đã đưa vào sử dụng các bên phải lập phụ lục hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay, trong đó mô tả đặc điểm và xác định giá trị tài sản.

Hợp đồng cầm cố thế chấp có thể là hợp đồng kinh tế hoặc hợp đồng dân sự, điều này phụ thuộc vào bản chất pháp lý của hợp đồng tín dụng, vì hành vi cầm cố thế chấp tài sản nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng tín dụng.

Tùy theo hình thức bảo đảm mà hợp đồng bảo đảm tiền vay phải có những thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật như công chứng hợp đồng bảo đảm hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Sau khi hợp đồng cầm cố thế chấp đã được ký kết, các bên tham gia hợp đồng hoặc người được ủy quyền tiến hành đăng ký giao dịch bảo đảm, tiến hành nhập tài sản vào kho.

Bước 4: Tái định giá tài sản cầm cố, thế chấp và xử lý sau tái định giá (Cơ Sở Lý Luận Thẩm Định Tài Sản Đảm Bảo Cho Vay Khách Hàng)

Tái định giá tài sản được thực hiện định kỳ theo quy định của ngân hàng hoặc đột xuất khi phát hiện tài sản bị dịch chuyển, thay đổi ảnh hưởng lớn đến giá trị tài sản. Bộ phận tín dụng chủ động đề xuất việc định giá lại tài sản bảo đảm và kết hợp với bộ phận định giá thực hiện. Việc tái định giá tài sản phải được lập thành biên bản và biên bản định giá lại là một phụ kiện của biên bản định giá. Bộ phận tín dụng chịu trách nhiệm báo cáo lại lãnh đạo các trường hợp sau:

Giá trị tài sản sau định giá lại không đủ bảo đảm tiền vay

Tài sản bị mất mát hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được nữa.

Khi đó ngân hàng cần yêu cầu khách hàng bổ sung thêm giá trị tài sản bảo đảm hoặc thu hồi nợ phần thiếu bảo đảm.

Nếu tái định giá mà giá trị tài sản bảo đảm tăng thì ngân hàng có thể tăng dư nợ cho khách hàng nếu khách hàng có nhu cầu.

Khi người vay thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi, ngân hàng sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc tài sản bảo đảm cho người vay đồng thời lập giấy xác nhận giải tỏa tài sản bảo đảm để gửi tới các đơn vị có liên quan, tiến hành thanh lý hợp đồng bảo đảm, đồng thời tiến hành thông báo gi ải hấp tới các phòng ban: phòng công chứng, phòng tài nguyên môi trường, trung tâm đăng ký giao dịch động sản.

Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ khi đến hạn thì ngân hàng có thể tiến hành xử lý tài sản bảo đảm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm. Trường hợp các bên không xử lý được tài sản bảo đảm theo phương thức đã thỏa thuận, các bên buộc phải xử lý tại tòa án.

Về phương thức xử lý: Nếu các bên có thỏa thuận, có thể xử lý theo một trong các phương thức sau:

Bán tài sản bảo đảm

Nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm

Nhận các khoản tiền, tài sản mà bên thứ ba phải trả hoặc phải giao cho bên bảo đảm.

Trong trường hợp không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm, thì tài sản bảo đảm được đấu giá theo quy định của pháp luật. Riêng đối với tài sản bảo đảm có thể xác định được giá cụ thể, rõ ràng trên thị trường thì người xử lý tài sản được bán theo giá thị trường mà không phải qua thủ tục bán đấu giá, đồng thời thông báo cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác (nếu có). Sau khi xử lý tài sản bảo đảm mà vẫn chưa thu hồi đủ khoản vay, thì ngân hàng tiếp tục truy đòi nợ đối với khách hàng vay vốn.

XEM THÊM NHIỀU CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG LUẬN VĂN THẠC SĨ TẠI ĐÂY:

===>>> CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG LUẬN VĂN THẠC SĨ

1.3 Công tác thẩm định tài sản đảm bảo (Cơ Sở Lý Luận Thẩm Định Tài Sản Đảm Bảo Cho Vay Khách Hàng)

1.3.1 Nội dung công tác thẩm định

Danh mục tài sản bảo đảm

Mỗi NH xây dụng một danh mục tài sản đảm bảo tiền vay phù hợp với chính sách bảo đảm tiền vay của mình. Tại Việt Nam, các NHTM xây dựng danh mục tài sản đảm bảo riêng của mình dựa trên quy định danh mục tài sản đảm bảo của Nghị định 178/1999/NĐ-CP như sau:

Tài sản cầm cố:

  • Tài sản hữu hình như xe cộ, máy móc, thiết bị, hàng hóa, vàng bạc, tàu biển, máy bay, …
  • Số dư trên tài khoản tiền gửi tại TCTD bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ.
  • Giấy tờ có giá như trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu.
  • Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi nợ, cac quyền tài sản khác phát sinh từ hợp đồng hoặc từ các căn cứ pháp lý khác.
  • Lợi tức và quyền phát sinh từ tài sản cầm cố.
  • Các tài sản khác theo quy định của pháp luật.
  • Tài sản thế chấp:
  • Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất, kể cả các tài sản gắn liền với nhà ở, công trình xây dựng và các tài sản khác gắn liền với đất.
  • Quyền sử dụng đất mà pháp luật về đất đai quy định được thế chấp.
  • Trường hợp thế chấp toàn bộ tài sản có vật phụ, thì vật phụ đó cũng thuộc tài sản thế chấp, nếu các bên có thỏa thuận.
  • Các tài sản khác theo quy định của pháp luật.

Nội dung công tác thẩm định tài sản đảm bảo lần đầu

  • Theo Nguyễn Hữu Đại (Sưu tầm và hệ thống) Ngân hàng cho vay thường xem xét thẩm định tài sản đảm bảo theo các khía cạnh:
  • Tính hiện hữu: Thẩm định về việc tài sản có thất trên thực tế hay không.
  • Tính vững chắc về pháp lý: Thẩm định tính pháp lý của giấy tờ chứng nhận (Cơ Sở Lý Luận Thẩm Định Tài Sản Đảm Bảo Cho Vay Khách Hàng)
  • quyền sở hữu, quyền sử dụng và các giấy tờ có liên quan đến tài sản đảm bảo để xác minh tài sản phải thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng, quản lý của khách hàng vay, tài sản không tranh chấp.
  • Tài sản bảo đảm không những chắc chắn thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm mà còn phải chắc chắn rằng tài sản đó không có tranh chấp để giảm thiểu tối đa những rủi ro tiềm ẩn đối với tài sản đảm bảo.
  • Thẩm định giá và xác định tỷ lệ cho vay tối đa

Phương pháp thẩm định giá

  • Các NHTM thường sử dụng một số phương pháp định giá như sau:
  • Phương pháp so sánh
  • Phương pháp chi phí
  • Phương pháp thu nhập
  • Phương pháp thặng dư
  • Phương pháp lợi nhuận

*Tỷ lệ cho vay tối đa trên giá trị tài sản bảo đảm:

NHTM xác định tỷ lệ cho vay tối đa trên giá trị tài sản đảm bảo dựa vào các yếu tố: Loại tài sản đảm bảo; Khả năng và mức độ biến động giá trên thị trường của loại tài sản đó; Chi phí phát sinh trong quá trình xử lý tài sản (nếu xảy ra) để thu nợ; Ngân hàng phải đảm báo thu đủ nợ gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn, bù đắp các khoản chi phí phát sinh trong qúa trình xử lý nợ mà ngân hàng phải gánh chịu.

Khả năng chuyển nhượng: Tài sản có được phép giao dịch, được pháp luật cho phép mua, bán, tặng, cho chuyển đổi, chuyển nhượng, thế chấp và các giao dịch khác.

Tài sản bảo đảm phải “bán” được – đó là điểm then chốt để tài sản đảm bảo có thể hoàn thành “sứ mệnh” của mình: thanh toán giá trị nghĩa vụ bị vi phạm cho bên nhận thế chấp. Đồng thời, tài sản đó không thuộc diện bị pháp luật cấm, không thuộc danh mục tài sản bị cấm lưu thông hoặc có quyết định thu giữ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Tài sản có dễ bán, dễ chuyển nhượng và ít bị mất giá chủ yếu là các tài sản thông dụng, ít hao mòn vô hình do tiến bộ khoa học, ít thay đổi công nghệ, được sử dụng cho nhiều mục đích và nhiều đối tượng có thể sử dụng.

Khả năng rủi ro của tài sản: Đối với khoản vay lớn, ngân hàng yêu cầu cán bộ thẩm định rủi ro liên quan đến tài sản đảm bảo như rủi ro liên quan đến hồ sơ pháp lý của tài sản đảm bảo, rủi ro về việc giảm giá trị tài sản đảm bảo, rủi ro về tính thanh khoản của tài sản, rủi ro có sự thay đổi chính sách của Nhà nước. (Cơ Sở Lý Luận Thẩm Định Tài Sản Đảm Bảo Cho Vay Khách Hàng)

Khả năng quản lý tài sản của ngân hàng: Khả năng theo dõi, kiểm tra đánh giá nhằm bảo đảm tài sản, các giấy tờ trong tình trạng bình thường hoặc kịp thời phát hiện các sự cố liên quan làm gi ảm giá trị của tài sản đảm bảo.

Những vướng mắc có khả năng xảy ra nếu xử lý tài sản và biện pháp phòng ngừa.

Nội dung tái thẩm định tài sản bảo đảm

Định kỳ hàng quý, 6 tháng hoặc đột xuất, cán bộ thẩm định thực hiện tái thẩm định tài sản đảm bảo. Việc kiểm tra giám sát tài sản đảm bảo phải được ghi vào văn bản và thể hiện một số nội dung cơ bản:

Kiểm tra thực trạng của tài sản đảm bảo so với các thời điểm thẩm định trước đó: Tài sản có phát sinh tranh chấp nào không, nếu có phát sinh thì cán bộ thẩm định kịp thời đề xuất thay đổi biện pháp quản lý tài sản đảm bảo khi cần thiết.

Đối với tài sản hình thành trong tương lai thực hiện giám sát kiểm tra quá trình hình thành tài sản đảm bảo.

Thẩm định lại giá trị tài sản: Kiểm tra giá trị tài sản đảm bảo có bị sụt giảm, đáp ứng được nghĩa vụ bảo đảm hay không để thực hiện định giá lại và yêu c ầu bên bảo đảm phải bổ sung tài sản hoặc giảm dần mức cấp tín dụng hoặc có thỏa thuận khác.

Kết quả thẩm định tài sản bảo đảm

Đối với thẩm định tài sản đảm bảo lần đầu, kết quả thẩm định giúp NH trong quyết định cho vay hay không cho vay khách hàng.

Đối với tái thẩm định tài sản đảm bảo, kết quả thẩm định được NH sử dụng để giải quyết những rủi ro có khả năng phát sinh về tài sản, giúp NH đưa ra những quyết định tăng, giảm hoặc thu hồi đối với khoản vay và làm căn cứ khi xử lý tài sản.

1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả thẩm định tài sản đảm bảo (Cơ Sở Lý Luận Thẩm Định Tài Sản Đảm Bảo Cho Vay Khách Hàng)

Cơ cấu tài sản đảm bảo

Mỗi NH xây dựng một cơ cấu tài sản đảm bảo tiền vay riêng phù hợp với chính sách bảo đảm tiền vay và chính sách tín dụng của mình, không quá tập trung tỷ trọng vào một số tài sản đảm bảo nào đó, cần làm đa dạng danh mục tài sản đảm bảo của mình.

Cơ cấu tài sản đảm bảo bao gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất; dây chuyền máy móc, thiết bị; phương tiện vận tải; hàng hóa; gi ấy tờ có giá,…

Cách tính:

Mức cho vay tối đa = Giá trị của tài sản đảm bảo tỷ lệ % theo quy định của từng ngân hàng.

Số lượng hồ sơ thẩm định tài sản đảm bảo

Số lượng hồ sơ thẩm định tài sản đảm bảo thể hiện khối lượng công việc mà đơn vị thực hiện công tác thẩm định tài sản đảm bảo. Việc xem xét chỉ tiêu này nhằm đánh giá kết quả công tác thẩm định tài sản đảm bảo. Số lượng hồ sơ thẩm định thể hiện vai trò, trách nhiệm của cán bộ thẩm định đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng.

Thời gian trung bình thực hiện thẩm định tài sản đảm bảo

Đây là chỉ tiêu đánh giá chất lượng công tác thẩm định tài sản đảm bảo. Công tác được coi là đảm bảo khi thực hiện được khối lượng đủ lớn trong một thời gian hợp lý. Điều này liên quan đến cách thức tổ chức và tiến hành công tác thẩm định tài sản đảm bảo, quy trình và phương pháp được áp dụng sao cho chặt chẽ, rõ ràng và hợp lý để quá trình thẩm định được thực hiện nhanh chóng, tiết kiệm được thời gian và chi phí phát sinh, đồng thời gia tăng khối lượng công việc thực hiện. Một quy trình thẩm định được coi là đẩy đủ, rõ ràng khi nó thể hiện được các nội dung của quá trình thẩm định. Thời gian thực hiện thẩm định ngắn sẽ sẽ tạo áp lực cho cán bộ thẩm định, thời gian thẩm định dài thì ngân hàng sẽ mất cơ hội cho vay khách hàng.

Số lần tái thẩm định tài sản đảm bảo trong một năm đối với một khoản vay

Chỉ tiêu dày giúp đánh giá được công tác tổ chức thực hiện tái thẩm định TSĐB tại Chi hánh. Tần suất tái thẩm định càng lớn thể hiện Chi nhánh đánh giá cao vai trò của công tác n ày, giúp ngăn ngừa và giảm thiểu được rủi ro có khả năng phát sinh liên quan đến TSĐB. (Cơ Sở Lý Luận Thẩm Định Tài Sản Đảm Bảo Cho Vay Khách Hàng)

Thời gian trung bình xử lý một tài sản thu hồi nợ

Chỉ tiêu này giúp ta đánh giá được khâu thẩm định tài sản đảm bảo có đảm bảo không, thẩm định về tính vững chắc pháp lý, thẩm định giá, tính thanh khoản, khả năng chuyển nhượng của tài sản đảm bảo trong lần đầu thẩm định cũng như các lần tái thẩm định. Nếu thời gian trung bình xử lý tài sản đảm bảo ngắn thì công tác thẩm định tài sản đảm bảo này đảm bảo, còn nếu thời gian xử lý dài và bị dây dưa thì công tác thẩm định bị đánh giá kém, chưa bảo đảm.

Số lượng khoản vay và dư nợ cho vay có thời gian xử lý bảo đảm kéo dài

Thời gian bị kéo dài có thể do nhiều nguyên nhân, trong đó hủ yếu là do tài sản đảm bảo có tính thanh khoản thấp, gặp khó khăn khi rao bán trên thị trường hoặc khách hàng vay không hợp tác trong quá trình xử lý tài sản đảm bảo.

Số lượng khoản vay và dư nợ cho vay xử lý tài sản không đủ để thu nợ gốc và lãi

Chỉ tiêu này đánh giá công tác th ẩm định giá của tài sản đảm bảo tại ngân hàng. Số lượng khoản vay và dư nợ cho vay xử lý tài sản không đủ để thu hồi nợ càng nhiều thể hiện cán bộ ngân hàng định giá tài sản cao hơn so với giá thị trường dẫn đến khi xử lý tài sản, số tiền xử lý không đủ để thu hồi cả gốc và lãi c ủa món vay.

Tỷ lệ trích lập dự phòng xử lý rủi ro cụ thể

Trong đó: R = max {0,(Ai – Ci)} x r,

A : Dư nợ ốc cho khoản vay,

C : Giá trị khấu trừ của tài sản đảm bảo,

r : Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể phụ thuộc vào nhóm nợ vay (Cơ Sở Lý Luận Thẩm Định Tài Sản Đảm Bảo Cho Vay Khách Hàng)

  • Nhóm 1: 0% . Nợ nhóm 1 hay còn gọi là nợ đủ tiêu chuẩn. Bao gồm các khoản nợ trong hạn và các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày.
  • Nhóm 2: 5% . Nợ nhóm 2 hay còn gọi là nợ cần chú ý. Bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu.
  • Nhóm 3: 20% . Nợ nhóm 3 hay còn gọi là nợ dưới tiêu chuẩn. Bao gồm các khoản nợ từ 90 ngày đến 180 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 30 ngày theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lần đầu và các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
  • Nhóm 4: 50%. Nợ nhóm 4 hay còn gọi là nợ có nghi ngờ. Bao gồm các khoản nợ từ 180 ngày đến 360 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 30 ngày đến dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.
  • Nhóm 5: 100% . Nợ nhóm 5 hay còn gọi là nợ có khả năng mất vốn. Bao gồm các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn.

Như ta thấy giá trị khấu trừ tài sản đảm bảo càng lớn thì số tiền trích lập dự phòng rủi ro cụ thể càng giảm. Dó đó tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo càng thấp thì dự phòng rủi ro cụ thể càng phải trích ít, tiết kiệm được chi phí.

Xem thêm nhiều bài luận văn mẫu khác tại đây:

===> Luận văn thạc sĩ Tài Chính Ngân Hàng

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thẩm định tài sản đảm bảo (Cơ Sở Lý Luận Thẩm Định Tài Sản Đảm Bảo Cho Vay Khách Hàng)

1.4.1 Nhân tố chủ quan

Bảo đảm tiền vay là hoạt động để phòng ngừa rủi ro cho ngân hàng khi khách hàng không trả được nợ. Hoạt động này có thực hiện được tốt hay không chịu sự chi phối khô nhỏ từ chính các ngân hàng, ví dụ như nhiều khi nhận định chưa

đúng, chưa đầy đủ về khách hàng; việc mở rộng mạng lưới hoạt động ngân hàng và tốc độ tăng trưởng quá nhanh, không tương xứng với việc nâng cao kiểm soát rủi ro; một số ngân hàng còn chấp hành quy chế cho vay, bảo lãnh chưa nghiêm túc, gia hạn nợ tùy ti ện, làm trong sạch tài chính giả tạo, chạy theo thành tích, dẫn đến khách hàng lợi dụng gây ra việc thất thoát tài sản; một số ngân hàng quá chú trọng vào cho vay các dự án lớn, vào một nhóm khách hàng có liên quan với nhau, khi DN gặp khó khăn sẽ dẫn đến sự khó khăn cho ngân hàng; năng lực cán bộ còn yếu kém, đặc biệt ở khâu thẩm định cho vay. Cụ thể như sau:

Chiến lược kinh doanh, mục tiêu của ngân hàng trong từng thời kỳ

Trong mỗi giai đoạn, ngân hàng thương mại đều có những chính sách cho vay cụ thể, có thể là mở rộng hay thắt chặt. Đây là một nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động bảo đảm tiền vay. Nếu ngân hàng muốn đẩy mạnh hoạt động tín dụng, sẽ mở rộng danh mục tài sản bảo đảm, cũng như linh hoạt hoạt hơn trong công tác bảo đảm tiền vay nhưng vẫn phải bảo đảm an toàn. Ngược lại, khi ngân hàng muốn thu hẹp quy mô tín dụng, ngoài công cụ là chính sách lãi suất, thì sử việc ra những quy định khắt khe hơn về tài sản bảo đảm cũng là một công cụ sử dụng vô cùng hiệu quả.

Chất lượng của cán bộ tín dụng ngân hàng (Cơ Sở Lý Luận Thẩm Định Tài Sản Đảm Bảo Cho Vay Khách Hàng)

Trong xu thế hội nhập, cạnh tranh, khi sức mạnh của đồng tiền ngày càng có vị trí chiếm lĩnh thì có không ít những cán bộ đã bị lu mờ, đã đánh mất đạo đức nghề nghiệp. Trước đồng tiền mua chuộc, họ sẵn sàng định giá sai tài sản bảo đảm, cùng khách hàng để cung cấp thông tin sai lệnh lừa đảo ngân hàng. Đây là một rủi ro rất lớn cho ngân hàng, khi khách hàng không trả nợ. Một cán bộ tín dụng ngân hàng chỉ có đạo đức nghề nghiệp không thôi chưa đủ, mà còn cần phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Bởi công tác th ẩm định tài sản bảo đảm, thẩm định khách hàng… hết sức khó khăn, phức tạp với nhiều diễn biến khôn lường, nếu cán bộ không có sự kiến chuyên sâu, am hiểu thị trường, có óc phán đoán… thì không thể thực hiện tốt được công tác phân tích, định giá tài sản bảo đảm cũng như dễ bị khách hàng lừa đảo. Như vậy, sự thành công của một ngân hàng nói chung và công tác thẩm định tài sản nói riêng không thể thiếu được đội ngũ cán bộ – những người vừa giỏi chuyên môn nghiệp vụ vừa có đạo đức nghề nghiệp.

Chất lượng công tác trong quy trình bảo đảm tiền vay

Trước hết đó là chất lượng công tác thẩm định khách hàng của ngân hàng

Để có thể cho vay, dù một khoản vay nhỏ hay lớn đều cần qua các công đoạn cơ bản như: thẩm định, quyết định cho vay, rải ngân, theo dõi, kiểm tra trong quá trình sử dụng vốn vay đến khi thu hồi được nợ và lãi. Trong đó, có thể nói thẩm định là khâu quan trọng nhất, vì nó quyết định đến mức cho vay, phương thức vay, lãi suất, thời hạn, tài sản bảo đảm … Nếu khâu này thực hiện không tốt sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ hoạt động cho vay của ngân hàng.

Hai là, chất lượng công tác định giá tài sản bảo đảm

Để cạnh tranh, các ngân hàng không ngừng đưa ra nhiều chính sách ưu đãi, gói sản phẩm mới … một trong số đó là chính sách về tài sản bảo đảm – ngày càng đa dạng, phong phú hơn, với chính sách linh hoạt, thông thoáng hơn, đồng nghĩa với đó yêu cầu việc định giá tài sản bảo đảm phải được tiến hành cẩn thận, chí h xác hơn. Vì bản thân tài sản bảo đảm đã rất khó định giá cùng với những dễn bến khó lường của thị trường thì công việc định giá lại trở lên khó khăn gấp bội. Như vậy, để hoạt động bảo đảm tiền vay được thực hiện tốt, thì một trong những điều kiện không thể thiếu là thực hiện tốt công tác định giá tài sản bảo đảm.

Ba là, chất lượng công tác quản lý tài sản bảo đảm (Cơ Sở Lý Luận Thẩm Định Tài Sản Đảm Bảo Cho Vay Khách Hàng)

Tài sản đảm bảo ngày càng đa dạng và phong phú, mỗi loại có những đặc thù riêng. Vì vậy, để bảo đảm những tài sản luôn nằm trong tình trạng bình thường và phát hiện kịp thời những sự cố liên quan làm gi ảm giá trị tài sản bảo đảm so với định giá ban đầu, ngân hàng phải thực hiện tốt khâu quản lý tài sản bảo đảm. Quản lý tài sản bảo đảm chính là việc theo dõi, kiểm tra, đánh giá lại tài sản bảo đảm. Nếu công tác này không được thực hiện định kỳ và thường xuyên sẽ không phát hiện được những thay đổi về giá trị tài sản bảo đảm trước những sự biến động chủ quan hay khách quan….khi đó ngân hàng sẽ không thể phản ứng kịp dẫn đến những rủi ro

khi phải xử lý tài sản bảo đảm. Chính vì vậy, việc thực hiện tốt công tác quản lý tài sản bảo đảm một cách có kế hoạch sẽ giúp ngân hàng tránh kh ỏi những rủi ro không đáng có, giảm thiểu được tổn thất cho ngân hàng.

1.4.2 Các nhân tố khách quan

Bên cạnh các nhân tố chủ quan thì nhân tố khách quan ảnh hưởng không nhỏ đến công tác thẩm định tài sản bảo đảm tiền vay mà trước hết phải nói đến đó là nhân tố khách hàng vì khách hàng là chủ thể vay vốn, là đối tượng chịu trách nhiệm trực tiếp đối với việc bảo đảm khoản vay. Do đó, bảo đảm tiền vay có tốt, có an toàn hay không – điều đó phụ thuộc không nhỏ vào khách hàng.

* Đạo đức khách hàng

Tư cách đạo đức của khách hàng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động bảo đảm tiền vay. Nguồn thông tin khách hàng cung cấp là cơ sở để ngân hàng thẩm định đánh giá, quyết định cho vay. Nếu khách hàng không trung thự , cố tình lừa đảo, cung cấp thông tin sai sự thật. Đó là một rủi ro rất lớn cho ngân hàng nếu ko phát hiện kịp thời. Ngược lại, với khách hàng trung thực, có ý thức hợp tác, cung cấp đầy đủ thông tin theo yêu cầu của ngân hàng sẽ giúp ngân hàng rất lớn trong thẩm định tài sản bảo đảm cũng như quyết định cho vay.

* Môi trường pháp lý:

Pháp luật cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bảo đảm tiền vay. Ta biết rằng, pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội. Một xã hội ổn định và phát triển phụ thuộc vào hiệu quả tác động của pháp luật lên các mối quan hệ trong xã hội. Là một bộ phận trong xã hội, hoạt động ngân hàng không nằm ngoài quy luật đó. Hơn nữa, hoạt động ngân hàng mang tính đặc thù, nên xây dựng pháp luật về ngân hàng cần phải được đặt ra và xem xét một cách thấu đáo, đặc biệt là các quy định về bảo đảm tiền vay. Nếu hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về bảo đảm tiền vay có sự thống nhất, hoàn thiện, chặt chẽ, phù hợp với thực tiễn hoạt động của ngân hàng sẽ là hành lang pháp lý không những đảm bảo an toàn cho ngân hàng mà còn thỏa mãn được nhu cầu vốn của các chủ thể trong xã hội, qua đó có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triền. Song trên thực tế, hệ thống các văn bản pháp luật về bảo đảm tiền vay của ước ta còn thiếu đồng bô, chồng chéo không phù hợp với thực tế, khiến cho việc thẩm định dự án, xử lý tài sản bảo đảm tiền vay còn gặp nhiều khó khăn, thậm chí còn t ạo ra những khe hở để khách hàng xấu lợi dụng lừa đảo ngân hàng. Chính vì vậy, xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ và chặt chẽ, phù hợp với thực tiễn là một tất yếu khách quan đối với nước ta – một nước đang trong quá trình chuyển đổi và hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới. (Cơ Sở Lý Luận Thẩm Định Tài Sản Đảm Bảo Cho Vay Khách Hàng)

Ngoài ra, hoạt động bảo đảm tiền vay còn chịu ảnh hưởng bởi các biến số khác của môi trường kinh tế vĩ mô như chính sách tiền tệ, chính sách thuế, lạm phát… đều ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng, cũng như tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Một khoản cho vay có thể được bảo đảm rất an toàn trên sổ sách nhưng thực tế khi có những biến động bất thường xảy ra như lãi suất tăng cao hay thời kỳ kinh tế suy thoái làm cho doanh thu hay thu nhập của khách hàng giảm, từ đó làm ảnh hưởng đến hoạt động bảo đảm tiền vay.

DOWNLOAD FILE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Chat Zalo
Chat Facebook
0932091562