Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp

Tải miễn phí mẫu Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp cho các bạn đang làm luận văn thạc sĩ ngành Tài chính doanh nghiệp, còn rất nhiều nội dung tham khảo về Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp, các bạn có thể tham khảo tại các bài viết tiếp theo của Luận văn Panda.

Lưu ý: Trong quá trình làm đề tài luận văn thạc sĩ Tài Chính doanh nghiệp, nếu các bạn không có thời gian làm bài, hay những khó khăn khác có thể liên hệ với Dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ của bên mình để được hỗ trợ làm bài qua SĐT/ZALO: 0932.091.562


1.1 Tổng quan về hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp

1.1.1 Khái quát về hoạt động sản xuất kinh doanh (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động sản xuất và kinh doanh luôn gắn liền với xã hội loài người, mỗi doanh nghiệp luôn cần phải nắm bắt xu hướng của thị trường nhằm đưa ra những chiến lược đúng đắn nhất để đạt được những mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra.

Hoạt động kinh doanh là các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lời của chủ thể kinh doanh trên thị trường.

“Hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi những nhân tố bên trong, đó là những nhân tố mang tính chất chủ quan trong quá trình sử dụng các yếu tố cơ bản của sản xuất, trong tổ chức quản lý sản xuất, trong công tác tiếp cận với thị trường v.v…Và những nhân tố bên ngoài, đó là những nhân tố mang tính chất khách quan như sự tác động của thể chế, luật pháp, tình trạng nền kinh tế trong nước và thế giới, lãi suất, chính sách tiền lương cơ bản, lạm phát, yếu tố về công nghệ, về văn hoá xã hội v.v…”

Ngoài ra hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn chịu ảnh hưởng của các quy luật như quy luật giá trị, cung cầu, cạnh tranh v.v…Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh được thu thập, ghi chép lưu trữ lại được gọi là công tác thống kê, lưu trữ.”

Các hoạt động sản xuất kinh doanh ở mỗi doanh nghiệp đều phải có định hướng và có kế hoạch rõ ràng. Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo tình hình thị trường như hiện nay, để tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh cần phải có lợi nhuận. Để đạt được kết quả cao nhất, các doanh nghiệp cần xác định phương hướng mục tiêu trong đầu tư, có kế hoạch sử dụng các nguồn lực sẵn có như nhân lực, vật lực, tài lực,… và vì thế các doanh nghiệp cần nắm chắc các nhân tố ảnh hưởng, mức độ và xu hướng tác động đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Hoạt động kinh doanh có đặc điểm:

+Do một chủ thể thực hiện và gọi là chủ thể kinh doanh, chủ thể kinh doanh có thể là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp.

  • Mục đích chủ yếu và bao trùm của hoạt động kinh doanh là lợi nhuận.
  • Kinh doanh luôn phải hướng đến thị trường, các chủ thể kinh doanh có mối quan hệ mật thiết và gắn bó với nhau, đó là quan hệ với các bạn hàng, với chủ thể cung cấp đầu vào, với khách hàng, với đối thủ cạnh tranh, với Nhà nước. Các mối quan hệ này giúp cho các chủ thể kinh doanh duy trì hoạt động kinh doanh đưa doanh nghiệp ngày càng phát triển.

+Kinh doanh phải có sự vận động của đồng vốn: Vốn là yếu tố quyết định cho công việc kinh doanh, không có vốn thì không thể có hoạt động kinh doanh. Chủ thể kinh doanh sử dụng vốn mua nguyên liệu, thiết bị sản xuất, thuê lao động…

Tóm lại, hoạt động kinh doanh là quá trình thực hiện các công đoạn từ việc khai thác sử dụng các nguồn lực sẵn có trong nền kinh tế để sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nhằm cung cấp cho nhu cầu thị trường và thu được lợi nhuận cho doanh nghiệp.

XEM THÊM: ===> Bảng giá luận văn thạc sĩ Tài chính doanh nghiệp

1.1.2 Ý nghĩa và vai trò của phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

1.1.2.1 Ý nghĩa của phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh

Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp có ý nghĩa cho các đối tượng:

  1. Nhà quản trị doanh nghiệp

Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh cung cấp cho nhà quản trị các thông tin về: Kết quả thực hiện các mục tiêu của kế hoạch kinh doanh, lợi thế, khó khăn, rủi ro và xu hướng phát triển trong thời gian tới, nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả của việc thực hiện các mục tiêu kinh doanh và khả năng tiềm tàng sẵn có của doanh nghiệp.

Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh cung cấp thông tin để nhà quản trị đề ra những quyết định quản lý như: Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh cho kỳ sau thích hợp, đề ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh.

  1. Ngân hàng, nhà đầu tư, nhà cung cấp (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cung cấp cho ngân hàng, nhà đầu tư, nhà cung cấp các thông tin về: Hiệu quả kinh doanh, khả năng thanh toán nợ, tỷ số nợ, quan hệ giữa vốn vay vốn chủ sở hữu và cuối cùng là lợi thế, khó khăn, rủi ro và xu hướng phát triển kinh doanh.

Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh cung cấp thông tin để ngân hàng, nhà đầu tư, nhà cung cấp ra quyết định cho vay, đầu tư và bán chịu.

  1. Nhà nước

Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh cung cấp cho nhà nước thông tin của doanh nghiệp, hoặc một lĩnh vực kinh tế nào đó: Hiệu quả kinh doanh và lợi thế, khó khăn, rủi ro, xu hướng phát triển kinh doanh.

Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh cung cấp thông tin để nhà nước đưa ra những biện pháp kiểm soát nền kinh tế, hoạch định các chính sách quản lý vĩ mô thích hợp.

1.1.2.2 Vai trò của phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Đó là một công cụ quản lý kinh tế có hiệu quả mà các doanh nghiệp đã sử dụng từ trước tới nay.Tuy nhiên trong cơ chế bao cấp phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh chưa phát huy đầy đủ tác dụng bởi các doanh nghiệp được sự bao cấp của nhà nước từ khâu cung cấp nguyên vật liệu, sản xuất đến cả khâu tiêu thụ sản phẩm.

Ngày nay nền kinh tế nước ta chuyển sang kinh tế thị trường, vấn đề được đặt lên hàng đầu đối với các doanh nghiệp là phải nâng cao hiệu quả kinh doanh. Có như vậy doanh nghiệp mới đứng vững trên thị trường và đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp khác, vừa phải tích luỹ vốn mở rộng sản xuất kinh doanh, vừa đảm bảo nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người lao động và thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước.

Để đảm bảo được điều đó doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá đầy đủ chính xác, toàn diện mọi diễn biến và kết quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, những mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp qua đó tìm mọi biện pháp để không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh cho phép các doanh nghiệp đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu kinh tế như thế nào, những mục tiêu đặt ra được thực hiện đến đâu, rút ra những tồn tại, tìm nguyên nhân khách quan và đề ra biện pháp khắc phục để tận dụng một cách triệt để khả năng tiềm tàng sẵn có của doanh nghiệp. Điều này cũng có nghĩa rằng phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ là điểm kết thúc của một chu kỳ sản xuất kinh doanh mà còn là điểm bắt đầu của một chu kỳ sản xuất kinh doanh mới. Kết quả phân tích quá trình sản xuất kinh doanh đã qua và những dự đoán trong phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh sắp tới là những căn cứ quan trọng để doanh nghiệp có thể hoạch định chiến lược phát triển và lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu.

Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh gắn với quá trình hoạt động của doanh nghiệp, có tác dụng giúp cho doanh nghiệp chỉ đạo mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Thông qua phân tích từng lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp như công tác chỉ đạo sản xuất, công tác tổ chức nhân sự và tiền lương, công tác tiếp thị và bán hàng, công tác quản lý tài chính v.v… giúp doanh nghiệp điều hành từng lĩnh vực cụ thể với sự tham gia của từng phòng ban chức năng, từng bộ phận trực thuộc của doanh nghiệp. (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh là biện pháp quan trọng để phòng ngừa rủi ro. Để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, hạn chế rủi ro xảy ra, doanh nghiệp phải tiến hành phân tích hoạt động kinh doanh, đồng thời dự đoán các điều kiện kinh doanh trong thời gian tới, lựa chọn chiến lược kinh doanh phù hợp. Ngoài việc phân tích các điều kiện bên trong doanh nghiệp tác động đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, còn phải quan tâm đến các nhân tố bên ngoài tác động như đối thủ cạnh tranh, thị trường tiêu thụ, khách hàng v.v… Trên cơ sở phân tích doanh nghiệp đưa ra các biện pháp nhằm phòng ngừa các rủi ro có thể xảy ra.

Tài liệu phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh không những cần thiết cho các nhà quản trị doanh nghiệp mà cũng rất cần thiết cho các đối tượng bên ngoài khác, khi họ có liên quan đến quyền lợi kinh tế với doanh nghiệp. Bởi vì, thông qua phân tích họ mới có thể quyết định đúng đắn trong việc bỏ vốn đầu tư, cho vay hay cung cấp hàng hoá cho doanh nghiệp.

1.1.2 Vị trí, vai trò của hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

-Vị trí: Hoạt động kinh doanh có vị trí vô cùng quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Hoạt động sản xuất kinh doanh là yêu cầu cơ bản cho sự tồn tại của nền kinh tế. Thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp sẽ trao đổi các sản phẩm với nhau từ đó có thể tiến hành hợp tác cùng kinh doanh. Hoạt động sản xuất kinh doanh là cơ sở thiết yếu không thể thiếu được và nhất lại là trong nền kinh tế thị trường như hiện nay. Nếu mỗi doanh nghiệp biết kết hợp các yếu tố đầu vào để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì sẽ mang lại một hiệu quả rất lớn cho mình.

-Vai trò: Hoạt động sản xuất kinh doanh là công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh của mình. Khi tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào, các doanh nghiệp đều phải huy động sử dụng tối đa các nguồn lực sẵn có nhằm đạt được mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận và hoạt động sản xuất kinh doanh là một trong những công cụ, phương pháp để doanh nghiệp đạt được mục tiêu đó. Thông qua việc tính toán các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh không những cho phép các nhà quản trị đánh giá được tính hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ( có đạt hiệu quả không và đạt ở mức độ nào ) mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất kinh doanh, để từ đó tìm ra các biện pháp điều chỉnh phù hợp với thực tế của thị trường, phù hợp với khả năng của doanh nghiệp. (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Nâng cao hoạt động kinh doanh là góp phần nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Mỗi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trên thị trường đều gặp rất nhiều đối thủ cạnh tranh khác nhau trong cùng ngành cũng như ngoài ngành. Do vậy chỉ có nâng cao hoạt động kinh doanh mới có thể tiết kiệm được chi phí, nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm,… mới có thể nâng cao được sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường và tìm mọi biện pháp để nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một tất yếu khách quan.

XEM THÊM: ===> Luận văn phân tích hiệu quả kinh doanh

1.2 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

1.2.1 Khái niệm về Hiệu quả hoạt động kinh doanh

Các doanh nghiệp hiện nay khi đi vào hoạt động thì sẽ tự xây dựng mục tiêu và các phương thức hoạt động khác nhau trong từng môi trường riêng biệt. Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là hướng đến mục tiêu to lớn và cuối cùng đó chính là tối đa hóa được lợi nhuận của công ty. Để đạt được điều đó, thì buộc doanh nghiệp phải luôn nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của chính doanh nghiệp mình, từ đó làm tiền đề để thực hiện các mục tiêu to lớn hơn. Mặt khác, để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì trước tiên ta cần phải hiểu rõ được hiệu quả kinh doanh là như thế nào.

Hiện nay, đã có rất nhiều tác giả đưa ra các quan niệm khác nhau trong việc định nghĩa về hiệu quả hoạt động kinh doanh. Theo bài giảng của Lê Kim Long (2018) thì: “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loạt hàng hoá mà không cắt giảm một loạt sản lượng hàng hoá khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó”. (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Theo hai tác giả Whohe và Doring (1985) lại đưa ra hai khái niệm khác về hiệu quả về hiệu quả kinh tế. Đó là hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị giá trị. Theo hai ông thì hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau. “Mối quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng tính theo đơn vị hiện vật (chiếc, kg…) và lượng các nhân tố đầu vào (giờ lao động, đơn vị thiết bị,nguyên vật liệu…) được gọi là tính hiệu quả có tính chất kỹ thuật hay hiện vật”, “Mối quan hệ tỷ lệ giữa chi phí kinh doanh phải chỉ ra trong điều kiện thuận lợi nhất và chi phí kinh doanh thực tế phải chi ra được gọi là tính hiệu quả xét về mặt giá trị” và “Để xác định tính hiệu quả về mặt giá trị người ta còn hình thành tỷ lệ giữa sản lượng tính bằng tiền và các nhân tố đầu vào tính bằng tiền”.

Theo bài giảng của Lê Kim Long (2018) lại có quan điểm cho rằng: “Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh”. (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Theo cuốn giáo trình Kinh tế thương mại dịch vụ – NXB Thống Kê 1998, có quan điểm cho rằng: “Hiệu quả kinh tế của một quá trình sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu xác định”. Quan điểm này phản ánh tốt trình độ lợi dụng của hoạt động sản xuất kinh doanh trong mọi điều kiện biến đổi. Cũng theo quan điểm này thì có thể xác định được hiệu quả sản xuất kinh doanh trong mọi điều kiện biến động.

Tại Việt Nam, Tác giả Phan Quang Niệm (2008) đã đưa ra nhận định: “Các doanh nghiệp quan tâm nhất chính là vấn đề hiệu quả sản xuất. SXKD có hiệu quả sẽ giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Hiểu theo mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với phạm trù lợi nhuận, là hiệu số giữa kết quả thu về với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Hiệu quả SXKD cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ tổ chức sản xuất và quản lý của mỗi doanh nghiệp”.

Mặt khác: “Hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu kinh tế – xã hội tổng hợp để lựa chọn các phương án hoặc các quyết định trong quá trình hoạt động thực tiễn ở mọi lĩnh vực kinh doanh và tại mọi thời điểm. Bất kỳ các quyết định cần đạt được phương án tốt nhất trong điều kiện cho phép, giải pháp thực hiện có tính chất cân nhắc, tính toán chính xác phù hợp với sự tất yếu của quy luật khách quan trong từng điều kiện cụ thể.”, ( Đỗ Hoàng Toàn, 1994). (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Theo (Nguyễn Văn Phúc, 2016) cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là phạm trù phản ánh mối quan hệ giữa kết quả kinh doanh mà doanh nghiệp thu được với chi phí hoặc nguồn lực bỏ ra để đạt được kết quả đó, được thể hiện thông qua các chỉ tiêu về khả năng sinh lời của doanh nghiệp”.

Hay quan niệm: “Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực có sẵn của doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong kinh doanh với chi phí thấp nhất”, (Nguyễn Văn Công, 2009).

Trong quá trình phân tích tìm hiểu, ta cần phải phân biệt rõ ràng giữa Hiệu quả kinh doanh và Kết quả kinh doanh. Kết quả kinh doanh là thứ mà doanh nghiệp sẽ có được trong một khoảng thời gian được thông qua bằng một số các chỉ tiêu như doanh thu, sản lượng sản phẩm tiêu thụ, thị phần,… Hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp, được tính bằng tỷ số giữa kết quả đạt được và hao phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.

Theo (Lê Kim Long, Bài giảng Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh, Đại học Nha Trang) có thể mô tả hiệu quả kinh doanh bằng công thức sau: (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Như vậy, hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh, trình độ lợi dụng các nguồn lực sản trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong sự vận động không ngừng của các quá trình sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vào quy mô tốc độ biến động của từng nhân tố.”

Tóm lại, chúng ta có thể hiểu: “Hiệu quả kinh doanh là sự so sánh giữa kết quả đầu ra với các yếu tố, nguồn lực đầu vào để tạo ra đầu ra đó”.

1.2.2 Bản chất của hiệu quả kinh doanh (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Theo (Lê Kim Long, Bài giảng Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh, Đại học Nha Trang), đã có những phân tích rất cụ thể về bản chất của hiệu quả kinh doanh như sau: “Hiệu quả sản xuất kinh doanh đã cho chứng minh bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp. Tuy nhiên để hiểu rõ và ứng dụng được phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh vào việc thành lập các chỉ tiêu, các công thức cụ thể nhằm đánh giá tính hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì chúng ta cần phân biệt rõ ranh giới giữa hai phạm trù là hiệu quả kinh doanh và kết quả kinh doanh.

Kết quả là phạm trù phản ánh những cái thu được sau quá trình kinh doanh hay một khoảng thời gian kinh doanh nào đó. Kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của doanh nghiệp có thể được biểu hiện bằng đơn vị hiện vật hoặc đơn vị giá trị. Các đơn vị hiện vật cụ thể được sử dụng tùy thuộc vào đặc trưng của sản phẩm mà quá trình kinh doanh tạo ra nó có thể là tấn, tạ, kg, lít… các đơn vị giá trị có thể là đồng, triệu đồng, ngoại tệ… Kết quả cũng có thể phản ánh mặt chất lượng của sản xuất kinh doanh hoàn toàn định tính như uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm… Cần chú ý rằng không chỉ kết quả định tính mà kết quả định lượng của một thời kì kinh doanh nào đó thường là rất khó xác định bởi nhiều lí do như kết quả không chỉ là sản phẩm hoàn chỉnh mà còn là sản phẩm dở dang, bán thành phẩm… Hơn nữa hầu như quá trình sản xuất lại tách rời quá trình tiêu thụ nên ngay cả sản phẩm sản xuất trong một thời kì nào đó cũng chưa thể khẳng định được liệu sản phẩm đó có tiêu thụ được không và bao giờ thì tiêu thụ được và thu được tiền về… (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Trong khi đó hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất. Trình độ lợi dụng các nguồn lực không thể đo lường bằng các đơn vị hiện vật hay giá trị mà là một phạm trù tương đối. Cần chú ý rằng trình độ lợi dụng các nguồn lực chỉ có thể được phản ánh bằng số tương đối: tỷ số giữa kết quả và hao phí kết quả và hao phí nguồn lực. Chênh lệch giữa kết quả và hao phí luôn là số tuyệt đối, phạm trù này chỉ phản ánh mức độ đạt được về một mặt nào đó nên cũng mang bản chất là kết quả nguồn lực. Tránh nhầm lẫn giữa phạm trù hiệu quả kinh doanh với phạm trù mô tả sự chênh lệch giữa quá trình kinh doanh và không bao giờ phản ánh được trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất. Nếu kết quả là mục tiêu của quá trình sản xuất kinh doanh thì hiệu quả là phương tiện để có thể đạt được các mục tiêu đó.

Vậy hiệu quả kinh doanh là một phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực, phản ánh mặt chất lượng của quá trình kinh doanh, phức tạp và khó tính toán bởi cả phạm trù kết quả và hao phí nguồn lực gắn với một thời kì cụ thể nào đó đều khó xác định một cách chính xác. Hiệu quả kinh doanh chỉ được coi là đạt được một cách toàn diện khi hoạt động của các bộ phận mang lại hiệu quả không ảnh hưởng đến hiệu quả chung (về mặt định hướng là tăng thu giảm chi). Điều đó có nghĩa là tiết kiệm tối đa các chi phí kinh doanh và khai thác các nguồn lực sẵn có làm sao đạt được kết quả lớn nhất.”

1.2.3 Phân biệt các loại hiệu quả (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Việc phân biệt các loại hiệu quả dựa trên từng góc độ, phạm vi, thời kỳ khác nhau. Chính vì thế, có thể phân biệt các hiểu quả theo các tiêu chí cụ thể như sau:

1.2.3.1 Hiệu quả xã hội, kinh tế, kinh tế -xã hội

Thứ nhất, hiệu quả xã hội. Hiệu quả xã hội là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất xã hội nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định. Đó là giải quyết công ăn việc làm, xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao phúc lợi xã hội, nâng cao mức sống cho người lao động, cải thiện điều kiện cho người lao động, đảm bảo vệ sinh môi trường, các cơ sở ý tế và phúc lợi công cộng… Hiệu quả xã hội thường gắn với các mô hình kinh tế hỗn hợp, thường được đánh giá và giải quyết ở góc độ vĩ mô.

Thứ hai, hiệu quả kinh tế. Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu kinh tế cụ thể của một thời kỳ nào đó nhất định. Hiệu quả kinh tế thường được nghiên cứu dưới giác độ vĩ mô. Không phải bao giờ hiệu quả kinh tế và hiệu quả kinh doanh cũng vận động cùng chiều. Có thể từng doanh nghiệp đạt hiệu quả kinh doanh cao song chưa chắc nền kinh tế cũng đạt hiệu quả kinh tế cao bởi lẽ kết quả của một nền kinh tế đạt được trong mỗi thời kỳ không phải lúc nào cũng là tổng đơn thuần của các kết quả của từng doanh nghiệp. (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Thứ ba, hiệu quả kinh tế – xã hội. Hiệu quả kinh tế – xã hội phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất xã hội để đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội nhất định. Hiệu quả kinh tế – xã hội gắn với nền kinh tế hỗn hợp và được xem xét ở góc độ quản lý vĩ mô. Hiệu quả kinh tế – xã hội thể hiện rõ việc đóng góp của chính các doanh nghiệp đến xã hội, cụ thể thông qua các hoạt động như: mang đến việc làm cho người dân, đóng thuế, góp phần tăng ngân sách quốc gia.

1.2.3.2 Hiệu quả kinh doanh tổng hợp và lĩnh vực hoạt động

Theo (Lê Kim Long, Bài giảng Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh, Đại học Nha Trang) thì “Hiệu quả kinh doanh tổng hợp: phản ánh khái quát và cho phép kết luận về hiệu quả kinh doanh của toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (một đơn vị bộ phận của doanh nghiệp) trong một thời kì xác định.

Hiệu quả kinh doanh lĩnh vực hoạt động: chỉ đánh giá ở từng lĩnh vực hoạt động (sử dụng vốn, lao động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu…) cụ thể của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh lĩnh vực chỉ phản ánh hiệu quả ở từng lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp chứ không phải phản ánh hiệu quả tổng hợp của doanh nghiệp. (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Giữa hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh lĩnh vực có mối quan hệ biện chứng với nhau. Hiệu quả kinh doanh tổng hợp phản ánh hiệu quả hoạt động của tất cả các lĩnh vực hoạt động cụ thể của doanh nghiệp và các đơn vị bộ phận trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp có thể xuất hiện mâu thuẫn giữa hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh lĩnh vực, khi đó chỉ có hiệu quả kinh doanh tổng hợp là phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh lĩnh vực chỉ có thể phản ánh hiệu quả ở từng lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp.

1.2.3.3 Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn và dài hạn

Thứ nhất, hiệu quả kinh doanh ngắn hạn. Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn là hiệu quả kinh doanh được xem xét, đánh giá ở từng khoản thời gian ngắn. Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn chỉ đề cập đến từng khoản thời gian ngắn như: tuần, tháng, quý, năm, vài năm.

Thứ hai, hiệu quả kinh doanh dài hạn. Hiệu quả kinh doanh dài hạn là hiệu quả kinh doanh được xem xét, đánh giá trong khoảng thời gian dài gắn với các chiến lược, các kế hoạch dài hạn hoặc thậm chí nói đến hiệu quả kinh doanh dài hạn người ta hay nhắc đến hiệu quả lâu dài, gắn với quãng đời tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Giữa hiệu quả kinh doanh dài hạn và ngắn hạn vừa có mối quan hệ biện chứng với nhau và trong nhiều trường hợp có thể có thể mâu thuẫn nhau. Về nguyên tắc, chỉ có thể xem xét và đánh giá hiệu quả kinh doanh ngắn hạn trên cơ sở vẫn đảm bảo đạt được hiệu quả kinh doanh dài hạn trong tương lai. Trong thực tế nếu xuất hiện mâu thuẫn giữa hiệu quả kinh doanh ngắn hạn và dài hạn, chỉ có thể lấy hiệu quả kinh doanh dài hạn làm thước đo chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vì nó phản ánh xuyên suốt quá trình lợi dụng nguồn lực sản xuất của doanh nghiệp.

XEM THÊM NHIỀU BÀI VIẾT TẠI ĐÂY:

===> Cơ Sở Lý Luận

1.2.4 Sự cần thiết và ý nghĩa của việc phải nâng cao hiệu quả kinh doanh (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Sự cần thiết:

Như chúng ta đã biết, trong thực tế mọi nguồn lực đưa vào sản xuất kinh doanh đều có giới hạn. Không có nguồn lực nào là vô tận, tất cả đều là hữu hạn. Trong khi các nguồn lực xã hội ngày càng giảm thì nhu cầu của con người ngày càng đa dạng. Quy luật khan hiếm bắt buộc mọi doanh nghiệp phải lựa chọn và trả lời chính xác ba câu hỏi sau: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Và sản xuất cho ai? Vì thị trường chỉ chấp nhận các doanh nghiệp nào quyết định sản xuất đúng loại sản phẩm (dịch vụ) với số lượng và chất lượng phù hợp. Mọi doanh nghiệp trả lời không đúng ba vấn đề trên sẽ sử dụng các nguồn lực sản xuất xã hội để sản xuất các sản phẩm không tiêu thụ được trên thị trường, tức kinh doanh không có hiệu quả, lãng phí nguồn lực sản xuất xã hội- doanh nghiệp khó tồn tại bền vững trên thị trường.

Trong cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh với nhau và những ngành nghề nào, thị trường nào càng có mức lợi nhuận cao thì cạnh tranh càng gay gắt, quyết liệt. Mục tiêu lớn nhất của mỗi doanh nghiệp đó chính là tạo ra được tối đa hóa lợi nhuận, nếu doanh nghiệp sử dụng hiệu quả, tiết kiệm các nguồn lực bao nhiêu thì sẽ mang về lợi nhuận bấy nhiêu.

Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là cơ sở để nâng cao thu nhập cho chủ sở hữu và cho người lao động trong doanh nghiệp, trên cơ sở đó góp phần nâng cao mức sống của người dân nói chung. Tóm lại, với thực trạng kinh tế hiện nay cạnh tranh ngày càng gay gắt và xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế toàn cầu yêu cầu doanh nghiệp phải hoạt động ngày càng có hiệu quả cao hơn. Bên cạnh đó là đời sống của cán bộ công nhân viên cũng phải càng được cải thiện hơn, đó chính là tác động về mặt xã hội của hiệu quả hoạt động kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh là con đường nâng cao sức cạnh tranh và khả năng tồn tại, phát triển tại mỗi doanh nghiệp.

Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh: (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Đối với nền kinh tế quốc dân: Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế quan trọng, phản ánh yêu cầu quy luật tiết kiệm thời gian phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực, trình độ sản xuất và mức độ hoàn thiện của quan hệ sản xuất trong cơ chế thị trường. Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ngày càng cao, quan hệ sản xuất càng hoàn thiện càng nâng cao hiệu quả. Tóm lại hiệu quả sản xuất kinh doanh đem lại cho quốc gia sự phân bố, sử dụng các nguồn lực ngày càng hợp lý và đem lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp.

Đối với bản thân doanh nghiệp: Hiệu quả kinh doanh xét về mặt tuyệt đối chính là lợi nhuận thu được. Nó là cơ sở để tái sản xuất mở rộng, cải thiện đời sống cán bộ công nhân viên. Đối với mỗi doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường thì việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và sự phát triển của doanh nghiệp. Ngoài ra nó còn giúp doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường, đầu tư, mở rộng, cải tạo, hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh. (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Đối với người lao động: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là động lực thúc đẩy kích thích người lao động hăng say sản xuất, luôn quan tâm đến kết quả lao động của mình. Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đồng nghĩa với việc nâng cao đời sống lao động thúc đẩy tăng năng suất lao động và góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh.

1.2.5 Mục đích của việc phân tích hiệu quả kinh doanh

  • Là công cụ để phát hiện những khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, và là công cụ cải tiến cơ chế quản lý trong kinh doanh.
  • Là cơ sở quan trọng để ra các quyết định kinh doanh.
  • Là biện pháp quan trọng để dự báo, đề phòng và hạn chế những rủi ro, bất định trong kinh doanh.

Tài liệu phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ cần thiết cho các nhà quản trị bên trong doanh nghiệp mà còn cần thiết cho các đối tượng ở bên ngoài khác.

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

1.3.1 Nhân tố thuộc môi trường bên trong

1.3.1.1 Lực lượng lao động.

Trong sản xuất kinh doanh, lực lượng lao động của doanh nghiệp có thể sáng tạo ra công nghệ, kỹ thuật mới và đưa chúng vào sử dụng tạo ra tiềm năng lớn cho việc nâng cao hiệu quả kinh doanh. Cũng chính lực lượng lao động sáng tạo ra sản phẩm mới kiểu dáng phù hợp với cầu của người tiêu dùng, làm cho sản phẩm (dịch vụ) của doanh nghiệp có thể bán được tạo ra cơ để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Lực lượng lao động tác động trực tiếp đến năng suất lao động, đến trình độ sử dụng các nguồn lực khác (máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu) nên tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh. Lao động có chuyên môn cao sẽ tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao từ đó giúp cho tiết kiệm thời gian, nguyên vật liệu, và góp phần làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng đối với sự thành công của doanh nghiệp, là một thành phần không thể thiếu trong bất cứ một đơn vị doanh nghiệp nào. Không một đơn vị nào có thể tồn tại nếu không có nguồn nhân lực đáp ứng được sự hoạt động và vận hành của bộ máy công ty. Chính vì thế, mỗi đơn vị doanh nghiệp cần có những giải pháp tốt nhất trong việc quản trị nhân lực. Nguồn nhân lực bao gồm tất cả những người đã và đang làm việc tại công ty ở tất cả các vị trí khác nhau. Có thể nói, đây là nguồn chính quyết định đến lợi nhuận và sự phát triển của công ty. Con người dù ở mọi vị trí, mọi đơn vị khác nhau đều là những chủ thể quan trọng trong việc sáng tạo và phát huy những lợi thế của đơn vị.

Trang thiết bị vật chất và nguồn nhân lực là hai yếu tố vô cùng quan trọng. Trong đó nhân lực đóng vai trò then chốt trong mọi hoạt động. Chính vì vậy mà đây luôn là yếu tố được các doanh nghiệp chú trọng quan tâm đầu tư cả về chất và về lượng.Với sự năng động và sáng tạo, đặc biệt là thế hệ trẻ sẽ giúp cho công ty rất nhiều trong việc tiếp thu những cái mới, nhạy bén trong việc học hỏi và nâng cao tri thức. Nếu người lãnh đạo biết khai thác những điểm mạnh này thì sẽ góp phần đưa doanh nghiệp phát triển lên một tầm cao mới.

1.3.1.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay công nghệ là yếu tố quyết định cho sự phát triển của sản xuất kinh doanh, là cơ sở để doanh nghiệp khẳng định vị trí của mình trên thị trường trường. Chính sách công nghiệp hóa hiện đại hóa của Đảng và nhà nước là để khuyến khích các doanh nghiệp thích ứng tốt với những thay đổi trong môi trường công nghệ. Sự thay đổi của công nghệ tác động tới doanh nghiệp theo nhiều khía cạnh khác nhau, đặc biệt nó không tách rời khỏi yếu tố con người.

Công nghệ và đổi mới công nghệ là động lực là nhân tố của phát triển trong các doanh nghiệp đổi mới công nghệ là yếu tố là biện pháp cơ bản giữ vai trò quyết định để doanh nghiệp giành thắng lợi trong cạnh tranh. Công nghệ lạc hậu sẽ tiêu hao nguyên vật liệu lớn, chi phí nhân công và lao động nhiều, do vậy giá thành tăng.

  • Công nghệ quyết định năng suất lao động và chất lượng sản phẩm: Trong cùng một thời gian nhưng nhờ những tiến bộ khoa học công nghệ không những làm tăng số sản phẩm mà còn tăng về cả chất lượng.

+Công nghệ quyết định khả năng về chi phí kinh doanh: ảnh hưởng tới mức độ tiết kiệm hay tăng phí nguyên vật liệu, mức độ sử dụng sự hao mòn vô hình của máy móc thiết bị.

1.3.1.3 Nhân tố quản trị: (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh trong thị trường hiện nay, thì một bộ phận đóng vai trò vô cùng lớn đó chính là bộ máy quản trị. Quản trị doanh nghiệp luôn quan tâm và hướng đến việc đề ra các chiến lược đúng đắn cho công ty. Để phát triển được bền vững đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải nâng cao các mặt lợi thế của chính công ty mình. Các lợi thế đấy ví dụ như: sản phẩm chất lượng cao, sản phẩm mang tính đột phá, giá cả, phương thức phục vụ,…

Bằng phẩm chất và tài năng của mình, đội ngũ các nhà quản trị mà đặc biệt là các nhà quản trị cao cấp có vai trò quan trọng nhất, ảnh hưởng có tính quyết định đến sự thành đạt của doanh nghiệp. Kết quả và hiệu quả hoạt động của quản trị doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn của đội ngũ các nhà quản trị cũng như cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp, việc xác định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận, cá nhân và thiết lập các mối quan hệ giữa các bộ phận trong cơ cấu tổ chức đó.

1.3.1.4 Nhân tố vốn

Nhân tố vốn được thể hiện dưới hình thái khả năng tài chính của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp nào có tài chính mạnh thì mang lại những ưu thế rất lớn như: đảm bảo duy trì liên tục các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, ngoài ra còn giúp cho doanh nghiệp đưa ra các quyết định về đầu tư đổi mới công nghệ nhanh chóng, không phải đắn đo.

Khả năng tài chính của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của doanh nghiệp đối với các đối tác tiêu thụ sản phẩm cũng như các đối tác cung cấp nguồn nguyên vật liệu cần thiết cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Ngoài ra khả năng tài chính còn ảnh hưởng tới khả năng chủ động trong sản xuất kinh doanh, tốc độ tiêu thụ và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới mục tiêu tối thiểu hoá chi phí bằng cách chủ động khai thác và sử dụng tối ưu các nguồn lực đầu vào.

1.3.1.5 Khách hàng (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Có thể nói khách hàng là yếu tố sống – còn của doanh nghiệp, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển bền vững cần phải có khách hàng, cần duy trì, phát triển khách hàng và tìm mọi cách phải đáp ứng, thỏa mãn được yêu cầu của khách hàng. Tất cả các doanh nghiệp đều tìm cách giữ và thu hút thêm khách hàng của mình bằng nhiều hình thức và như vậy vai trò của khách hàng đối với mỗi doanh nghiệp là vô cùng quan trọng.

Theo Peter Fdrucker (1954), cha đẻ của ngành quản trị định nghĩa “Khách hàng của một doanh nghiệp là một tập hợp những cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp, v.v… có nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp và mong muốn được thỏa mãn nhu cầu đó”. Trong kinh doanh, khách hàng đóng vai trò tối quan trọng đối với sự sống còn của doanh nghiệp.

Theo (Voer, 2011) “Khách hàng là yếu tố then chốt hết sức quan trọng quyết định đến thành công hay thất bại của công ty, đây là lực lượng chính tiêu thụ sản phẩm và là đối tượng mà doanh nghiệp cần phục vụ, những đòi hỏi về nhu cầu của người tiêu dùng luôn là thách thức cũng như sẽ mở rộng cơ hội lớn cho doanh nghiệp.” (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Trong tình hình kinh tế hiện nay, sự cạnh tranh giữa các ngành nghề, dịch vụ mang lại nhiều thách thức cho doanh nghiệp. Hành vi của khách hàng thay đổi mạnh mẽ từ phụ thuộc nhiều vào một sản phẩm dịch vụ sang độc lập hơn, có sự lựa chọn nhiều hơn, yêu cầu cao hơn. Thực tiễn cho thấy, các doanh nghiệp có chiến lược, kế hoạch và hành động cụ thể để đầu tư hiệu quả các nguồn lực nhằm thỏa mãn tối ưu nhu cầu của khách hàng, không ngừng nâng cao sự hài lòng của khách hàng, là các doanh nghiệp giành được lợi thế cạnh tranh trong thương trường. Để đạt được mục tiêu chiến lược này đòi hỏi doanh nghiệp cần xây dựng một chiến lược lấy khách hàng làm trọng tâm định hướng toàn bộ các hoạt động của mình.

“Đối với bất cứ một doanh nghiệp nào khách hàng luôn là yếu tố quan trọng nhất, quyết định nhất tới sự sống còn của doanh nghiệp. Tính chất quyết định của khách hàng thể hiện trên các mặt sau:”

  • Khách hàng quyết định sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp được bán theo giá nào. Trên thực tế, doanh nghiệp chỉ có thể bán với giá mà người tiêu dùng chấp nhận. (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

+Khách hàng quyết định doanh nghiệp bán sản phẩm như thế nào. Phương thức bán và phương thức phục vụ khách hàng là do khách hàng lựa chọn, vì trong nền kinh tế thị trường phát triển, người mua có quyền lựa chọn người bán theo ý thích của mình và đồng thời quyết định phương thức phục vụ của người bán.

Khách hàng là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển được hay không. Vì thế, doanh nghiệp cần phải có những chiến lược thật phù hợp để tạo ra những sản phẩm mang tính đột phá vừa đảm bảo về mặt chất lượng, đảm bảo về giá cả và đặc biệt là phải phù hợp với nhu cầu thị yếu của người tiêu. Doanh thu công ty tăng nhanh hay không phụ thuộc lớn nhất vào sức tiêu thụ của sản phẩm.

1.3.1.6 Đối thủ cạnh tranh (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp được chia thành hai loại. -Đối thủ cạnh tranh sơ cấp: Cùng tiêu thụ các sản phẩm đồng nhất;

-Đối thủ cạnh tranh thứ cấp: Sản xuất và tiêu thụ những sản phẩm có khả năng thay thế. Nếu đối thủ cạnh tranh mạnh hơn thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn rất lớn trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh. Bởi vì, doanh nghiệp lúc này chỉ có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách nâng cao chất lượng, giảm giá thành sản phẩm để đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ, tăng doanh thu tăng vòng quay của vốn, yêu cầu doanh nghiệp phải tổ chức lại bộ máy hoạt động phù hợp tối ưu hơn, hiệu quả hơn để tạo cho doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh về giá cả, chất lượng, chủ loại, mẫu mã…Như vậy, đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp đồng thời thúc đẩy sự tiến bộ trong kinh doanh, tạo ra động lực phát triển của doanh nghiệp.

Việc xuất hiện càng nhiều đối thủ cạnh tranh thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sẽ càng khó khăn và sẽ bị giảm một cách tương đối.

1.3.2 Nhân tố thuộc môi trường bên ngoài (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

1.3.2.1 Môi trường pháp lý

Tại mỗi quốc gia đều có một cơ chế chính trị nhất định, gắn với nó là cơ chế quản lý và các chính sách của bộ máy Nhà nước đặt lên quốc gia đó. Sự ảnh hưởng của nhân tố này vô cùng lớn, mang tính bao quát không những tác động đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân mà còn ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp qua sự quản lý gián tiếp của Nhà nước.

Môi trường pháp lý là tổng hợp các quy định pháp luật liên quan đến một lĩnh vực bất kỳ mà chủ thể thực hiện lĩnh vực đó có các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ đồng thời cũng có các nghĩa vụ kèm theo. Hiện nay chưa có một định nào định nghĩa cụ thể về cụm từ môi trường pháp lý là gì? Nhưng trên thực tế chúng ta lại sử dụng thuật ngữ này rất nhiều. Môi trường là tập hợp các yếu tố có mối liên kết chặt chẽ với nhau khi thực hiện một hoạt động bất kỳ. Pháp lý chính là những lý lẽ, lẽ phải được quy định trong các quy phạm pháp luật. (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Môi trường pháp lý bao gồm luật, các văn bản dưới luật,… Mọi quy định pháp luật về kinh doanh đều tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Vì môi trường pháp lý tạo ra “sân chơi” để các doanh nghiệp cùng tham gia kinh doanh, vừa cạnh tranh lại vừa hợp tác với nhau nên việc tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh là rất quan trọng. Một môi trường pháp lý lành mạnh vừa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiến hành thuận lợi các hoạt động kinh doanh của mình lại vừa điều chỉnh các hoạt động kinh tế vi mô theo hướng không chỉ chú ý đến kết quả và hiệu quả riêng mà còn phải chú ý đến lợi ích của các thành viên khác trong xã hội.

Doanh nghiệp có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh mọi quy định của pháp luật. Môi trường pháp lý có tác động mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất kinh doanh cả doanh nghiệp. Sẽ chỉ có kết quả và hiệu quả tích cực nếu môi trường kinh doanh mà mọi thành viên đều tuân thủ pháp luật. Ngược lại, nhiều doanh nghiệp lao vào con đường làm ăn bất chính, trốn thuế, sản xuất hàng giả hàng nhái cũng như gian lận, vi phạm pháp luật, làm cho môi trường kinh doanh không còn lành mạnh. Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, dẫn đến những thiệt hại rất lớn về kinh tế và làm xói mòn đạo đức xã hội.

1.3.2.2 Môi trường kinh tế (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Theo (Tuệ Thi, 2018) thi nhận định “Môi trường kinh tế là tập hợp nhiều yếu tố có ảnh hưởng sâu rộng và theo những chiều hướng khác nhau đến hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.”

Môi trường kinh tế là nhân tố tác động rất lớn tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nó bao gồm các chính sách đầu tư, chính sách phát triển kinh tế, chính sách vĩ mô… tác động tích cực hay tiêu cực tới sự phát triển của từng ngành, lĩnh vực hay khu vực kinh tế từ đó tác động đến doanh nghiệp thuộc vùng, ngành kinh tế đó. Môi trường kinh tế tốt sẽ tạo ra sự dự báo tốt để doanh nghiệp ra quyết định đúng đắn các hoạt động đầu tư của mình.

Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tại Việt Nam, các yếu tố kinh tế nổi bật mà các doanh nghiệp thường quan tâm, chú trọng đó là: (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

  • Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Kinh tế phát triển nhanh phản ánh tốc độ phát triển cao của thị trường do đó sẽ làm giảm áp lực cạnh tranh. Việc kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, lạm phát tăng cao hay tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm phản ánh sức mua của thị trường sa sút. Trong bối cảnh này hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ trở nên khó khăn và ngược lại.
  • Lãi suất và xu hướng của lãi suất trong nền kinh tế: Là một yếu tố thuộc chính sách tiền tệ. Lãi suất cao hay thấp đều ảnh hưởng đến kinh doanh và nhu cầu thị trường. Lãi suất cao làm cho chi phí vốn của doanh nghiệp càng cao. Ngược lại lãi suất giảm có thể coi là biện pháp kích cầu tiêu dùng và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
  • Hệ thống thuế và mức thuế: cũng là một yếu tố kinh tế mà mọi doanh nghiệp đều quan tâm. Thuế là một phần chi phí của doanh nghiệp. Vì vậy chính sách thuế thấp ưu đãi sẽ có lợi cho doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả kinh doanh. Thuế cao sẽ bất lợi cho kinh doanh. Thuế suất bất ổn định sẽ gây khó khăn cho công tác hoạch định chiến lược kinh doanh dài hạn của doanh nghiệp.
  • Lạm phát là một biến số của kinh tế vĩ mô ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Lạm phát cao khiến sức mua của đồng tiền bị giảm sút nghiêm trọng dẫn tới nguy cơ của doanh nghiệp không đảm bảo được hoàn vốn kinh doanh lúc này các doanh nghiệp thường thu hẹp quy mô kinh doanh, giảm nhiệt độ hoạt động nhằm hạn chế tác động tiêu cực của lạm phát. Nếu các doanh nghiệp không áp dụng các biện pháp tích cực thì có thể còn bị thất thoát vốn kinh doanh và tình hình tài chính không ổn định. Tuy nhiên nếu lạm phát ở mức độ vừa phải có tác dụng kích thích sản xuất kinh doanh phát triển. (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Hoạt động kinh doanh của mọi doanh nghiệp đang chịu sự ảnh hưởng rất lớn từ các yếu tố của môi trường kinh tế, chúng tác động mạnh mẽ đến khả năng nắm bắt hoặc làm biến mất cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ hàng hóa đồng thời cũng trực tiếp tác động đến hoạt động bán hàng của doanh nghiệp. Các yếu tố kinh tế bao gồm: Tốc độ tăng trưởng nền kinh tế, kim ngạch xuất nhập khẩu, tình trạng lạm phát, thất nghiệp, tỷ giá, lãi suất ngân hàng, tốc độ đầu tư, thu nhập bình quân đầu người, các chính sách kinh tế và cơ cấu chi tiêu, sự phân hóa thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, thu chi ngân sách nhà nước.

1.3.2.3 Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng

Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng như hệ thống đường giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, điện, nước… quá trình tuyển chọn đào tạo nguồn nhân lực đều là những nhân tố tác động mạnh mẽ đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp kinh doanh ở những những khu vực có hệ thống giao thông thuận lợi, điện, nước đầy đủ, thị trường tiêu thụ thuận lợi sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu, giảm chi phí kinh doanh…và do đó nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Ngược lại ở nhiều vùng nông thôn, biên giới hải đảo có cơ sở hạ tầng yếu kém không thuận lợi cho mọi hoạt động như vận chuyển mua bán hàng hoá… các doanh nghiệp hoạt động với hiệu quả sản xuất kinh doanh không cao thậm chí có nhiều vùng sản phẩm làm ra mặc dù có giá trị rất cao nhưng không có hệ thống giao thông thuận lợi vẫn không thể tiêu thụ được dẫn đến hiệu quả kinh doanh thấp.

1.3.2.4 Môi trường xã hội (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Trong số các môi trường khác nhau đã nêu ở trên, môi trường văn hóa xã hội có tác động lớn nhất đến chính sách và hiệu suất của tất cả các công ty kinh doanh.

Theo (Quantri.vn ,2014) thì nêu cụ thể: “Các yếu tố văn hóa, xã hội bao gồm: Tầng lớp xã hội, mức thu nhập, nghề nghiệp, tư tưởng tôn giáo, phong tục tập quán, chủng tộc, dân số, xu hướng vận động của các hộ gia đình, tín ngưỡng…Những yếu tố thuộc môi trường văn hóa xã hội có tác động mạnh mẽ đến hành vi mua sắm của người tiêu dùng, đặt ra những thách thức nghiêm trọng cho doanh nghiệp và các nhà quản lý doanh nghiệp khi xây dựng các chiến lược và chính sách kinh doanh.

Môi trường xã hội quan tâm đến môi trường của toàn xã hội – trong đó mọi người đều tham gia. Môi trường văn hóa là tổng hợp của tất cả các nền văn hóa phụ với mỗi khái niệm, tín ngưỡng và tín ngưỡng riêng biệt. Các doanh nghiệp kinh doanh nên liên tục theo dõi các phát triển đang diễn ra và thực hiện các điều chỉnh cần thiết trong các kế hoạch và chiến lược sản xuất và tiếp thị để đáp ứng các nhu cầu xã hội mới. (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Tại Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp đang hoạt động luôn ảnh hưởng bởi yếu tố môi trường văn hóa xã hội. Theo (Giáo trình quản trị chiến lược, môi trường văn hóa xã hội và tự nhiên ảnh hưởng tới doanh nghiệp) thì “Môi trường văn hóa, xã hội thể hiện các thái độ xã hội và các giá trị văn hóa. Nó bao gồm nghiệp tố nhân khẩu, tốc độ tăng dân số, cơ cấu dân số, quan điểm sống, quan điểm về thẩm mỹ, các giá trị,  chuẩn mực đạo đức… Khi có sự thay đổi về các nghiệp tố này sẽ tạo sự thay đổi rất lớn về nhu cầu tiêu dùng sản phẩm. Việc nắm bắt các nghiệp tố này sẽ giúp doanh nghiệp có sự thích ứng nhanh chóng với những yêu cầu của khách hàng, có hoạt động sản xuất hoặc marketing phù hợp. Ví dụ, xu hướng già hóa của dân số sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ y tế, du lịch các nhà dưỡng lão… Trình độ học vấn gia tăng sẽ có thể làm tăng chất lượng nguồn nhân lực quốc gia, một trong những nghiệp tố tạo nên lợi thế về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp khi tham gia hoạt động trên thị trường quốc tế.

1.3.2.5 Môi trường công nghệ (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Công nghệ tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp mới giúp cho các doanh nghiệp mới cạnh tranh với các doanh nghiệp cũ chậm chạp. Ngày nay công nghệ thay đổi nhanh chóng nên doanh nghiệp cũng cần tiếp cận, nghiên cứu và ứng dụng nó vào lĩnh vực kinh doanh của mình để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Công nghệ ngày càng thay đổi mang lại cho con người nhiều điều kỳ diệu, nhưng cũng đặt ra các thách thức mới cho các doanh nghiệp. Công nghệ là một vũ khí cạnh tranh. Công nghệ mới sẽ tạo ra các sản phẩm mới cạnh tranh với sản phẩm hiện tại. Do vậy công nghệ tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp mới giúp cho các doanh nghiệp mới cạnh tranh với các doanh nghiệp cũ chậm chạp. Ngày nay công nghệ thay đổi nhanh chóng. Công nghệ truyền thông số hoá, tin học hoá, quang hoá phát triển nhanh chóng làm cho giá cả giá cả các thiết bị viễn thông giảm nhanh, và chất lượng lượng được nâng cao, có khả năng tạo ra các dịch vụ đa dạng.

Với tình hình phát triển kinh tế như hiện nay, các doanh nghiệp có quy mô từ nhỏ đến lớn muốn tồn tại và phát triển được cần phải xây dựng cho mình một kế hoạch đổi mới công nghệ. Tiến bộ khoa học công nghệ, đổi mới công nghệ sẽ cho phép nâng cao chất lượng sản phẩm tạo ra nhiều sản phẩm mới, đa dạng hoá sản phẩm, tăng sản lượng, tăng năng suất lao động, sử dụng hợp lý tiết kiệm nguyên vật liệu …Nhờ vậy sẽ tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tiến bộ khoa học công nghệ, đổi mới công nghệ thực sự là hướng đi đúng đắn của một doanh nghiệp công nghiệp giàu tiềm năng.

1.3.2.6 Nhân tố Thị trường (Cơ Sở Lý Luận Về Hiệu Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp)

Gồm thị trường đầu vào và thị trường đầu ra. Nhân tố thị trường có vai trò rất lớn trong việc hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

  • Đối với thị trường đầu vào: Cung cấp các yếu tố cho quá trình sản xuất như nguyên vật liệu, máy móc thiết bị… Cho nên nó tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm, tính liên tục và hiệu quả của quá trình sản xuất.
  • Còn đối với thị trường đầu ra quyết định doanh thu của doanh nghiệp trên cơ sở chấp nhận hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp. Thị trường đầu ra sẽ quyết định tốc độ tiêu thụ, tạo vòng quay vốn nhanh hay chậm từ đó tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

DOWNLOAD FILE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chat Zalo
Chat Facebook
0932091562