Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp

Tải miễn phí mẫu Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp cho các bạn đang làm luận văn thạc sĩ ngành Tài chính doanh nghiệp, còn rất nhiều nội dung tham khảo về Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp, các bạn có thể tham khảo tại các bài viết tiếp theo của Luận văn Panda.

Lưu ý: Trong quá trình làm đề tài luận văn thạc sĩ Tài Chính doanh nghiệp, nếu các bạn không có thời gian làm bài, hay những khó khăn khác có thể liên hệ với Dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ của bên mình để được hỗ trợ làm bài qua

SĐT/ZALO: 0932.091.562


Mục lục ẩn

1.1. Khái quát về tài chính doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp và tài chính doanh nghiệp

Doanh nghiệp là một chủ thể kinh tế độc lập được thực hiện theo quy định của pháp luật nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục đích sinh lời.

Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có các yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất như: tư liệu lao động, đối tượng lao động, sức lao động.

Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào để tạo ra yếu tố đầu ra là hàng hóa và tiêu thụ hàng hóa, đem về lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Trong nền kinh tế thị trường, mọi vận hành kinh tế đều được tiền tệ hóa vì vậy các yếu tố trên đều được biểu hiện bằng tiền. Hay nói cách khác, để có các yếu tố đầu vào cần thiết, doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định, và tùy theo loại hình doanh nghiệp mà có các phương thức huy động vốn khác nhau. (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Vốn vận động rất đa dạng, liên tục và không ngừng chuyển đổi hình thái biểu hiện. Từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu sang hình thái vốn vật tư, hàng hóa và cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ.

Từ số vốn tiền tệ ban đầu đó, doanh nghiệp mua sắm tài sản, trang thiết bị, nguyên vật liệu… phục vụ cho quá trình sản xuất. Sản phẩm của quá trình sản xuất được tung ra thị trường nhờ quá trình tiêu thụ, đây chính là giai đoạn mà doanh nghiệp bán sản phẩm và thu tiền từ bán hàng. Doanh thu bán hàng sau khi bù đắp các chi phí doanh nghiệp sẽ thu được một khoản lợi nhuận, với số lợi nhuận đó doanh nghiệp sẽ tiếp tục phân phối một cách hợp lý. Như vậy, quá trình hoạt động của doanh nghiệp cũng là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ hợp thành hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Trong quá trình đó làm phát sinh và tạo ra sự vận động của dòng tiền vào, dòng tiền ra gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.

Mặt khác, sự vận động của vốn tiền tệ không chỉ bó hẹp trong một chu kỳ sản xuất, mà sự vận động đó hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội (sản xuất – phân phối – trao đổi – tiêu dùng). Nhờ sự vận động của tiền tệ mà hàng loạt các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị đã phát sinh ở các khâu trong quá trình tái sản xuất trong nền kinh tế thị trường. Những quan hệ đó tuy chứa đựng nội dung kinh tế khác nhau, song chúng đều có những đặc trưng kinh tế giống nhau mang bản chất của tài chính doanh nghiệp. (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Xem Thêm chi tiết về quy trình làm luận văn và bảng giá viết thuê luận văn thạc sĩ tại đây:

===> Bảng giá viết thuê luận văn thạc sĩ

Các quan hệ kinh tế bên trong quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp dưới hình thức giá trị hợp thành các quan hệ tài chính của doanh nghiệp bao gồm:

– Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước

Mối quan hệ này thể hiện ở chỗ Nhà nước cấp phát, hỗ trợ vốn và góp vốn cổ phần theo những nguyên tắc và phương thức nhất định để tiến hành sản xuất kinh doanh và phân chia lợi nhuận. Đồng thời, mối quan hệ tài chính này cũng phản ánh những quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân giữa ngân sách Nhà nước với các doanh nghiệp được thể hiện thông qua các khoản thuế mà doanh nghiệp phải nộp vào ngân sách Nhà nước theo luật định.

– Mối quan hệ tài chính giữa các doanh nghiệp với thị trường tài chính

Các quan hệ này được thể hiện thông qua việc tài trợ các nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Với thị trường tiền tệ, thông qua hệ thống ngân hàng, các doanh nghiệp nhận được các khoản tiền vay để tài trợ cho các nhu cầu vốn ngắn hạn và ngược lai các doanh nghiệp phải hoàn trả vốn vay và tiền lãi trong thời hạn nhất định. Với thị trường vốn, thông qua hệ thống các tổ chức tài chính trung gian khác doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ khác để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn bằng cách phát hành các chứng khoán. Ngược lại, các doanh nghiệp phải hoàn trả mọi khoản lãi cho các chủ thể tham gia đầu tư vào doanh nghiệp bằng một khoản tiền cố định hay phụ thuộc vào khả năng kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua thị trường tài chính, các doanh nghiệp cũng có thể đầu tư vốn nhàn rỗi của mình bằng cách kí gửi vào hệ thống ngân hàng hoặc đầu tư vào chứng khoán của các doanh nghiệp khác. (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

  • Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế và tổ chức xã hội khác.

Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác rất đa dạng và phong phú được thể hiện trong việc thanh toán, thưởng phạt vật chất khi doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác cụng cấp hàng hóa, dịch vụ cho nhau.

Ngoài ra, doanh nghiệp có thể có quan hệ tài chính với các tổ chức xã hội khác như doanh nghiệp thực hiện tài trợ cho các tổ chức xã hội

– Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với người lao động:

Quan hệ này được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp thanh toán tiền lương, tiền công, thực hiện thưởng phạt vật chất đối với người lao động. (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

  • Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ sở hữu của doanh nghiệp.

Mối quan hệ này thể hiện trong việc các chủ sở hữu thực hiện góp vốn đầu tư hay rút vốn ra khỏi doanh nghiệp và trong việc phân chia lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp.

Mối quan hệ tài chinh giữa doanh nghiệp với các thị trường khác:

Các thị trường khác như thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường sức lao động,…là chủ thể hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải sử dụng vốn để mua sắm các yếu tố sản xuất như vật tư, máy móc thiết bị, trả công lao động, chi trả các dịch vụ… Đồng thời, thông qua các thị trường, doanh nghiệp xác định nhu cầu sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng, để làm cơ sở hoạch định ngân sách đầu tư kế hoạch sản xuất, tiếp thị… nhằm làm cho sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp luôn thỏa mãn nhu cầu của thị trường.

– Mối quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp

Đây là mối quan hệ tài chính khá phức tạp, phản ánh quan hệ tài chính giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh, giữa các bộ phận quản lý, giữa các thành viên trong doanh nghiệp, giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn.

Tài chính là một phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị, phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định.

Tài chính ra đời gắn liền với sự ra đời của tiền tệ và sự hình thành Nhà nước nên tài chính được xem là phạm trù kinh tế mang tính lịch sử. Trong quá trình phát triển của mình, tài chính thể hiện sự tồn tại ở nhiều hình thái khác nhau: tài chính Nhà nước, tài chính doanh nghiệp, tài chính dân cư-xã hội, tài chính trung gian… Các bộ phận tài chính này trong một quốc gia kết hợp lại hoạt động trong môi trường chung đã tạo nên hệ thống tài chính quốc gia: trong đó tài chính Nhà nước là bộ phận tài chính chủ đạo, còn tài chính doanh nghiệp là bộ phận cơ sơ cấu thành nên hệ thống tài chính của quốc gia đó. (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Nếu đứng trên giác độ tổng thể hệ thống tài chính thì Tài chính doanh nghiệp là một khâu cơ sở của hệ thống tài chính, là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị phản ánh sự vận động và chuyển hóa các nguồn tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu, mục đích kinh doanh của doanh nghiệp.

Nếu đứng trên giác ngộ doanh nghiệp thì tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh.

Vậy, xét về mặt hình thức, Tài chính doanh nghiệp là các quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với các hoạt động của doanh nghiệp. Xét về bản chất, Tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt tới mục tiêu nhất định mà doanh nghiệp đề ra.

Tải miễn phí bài mẫu tại đây

===> Luận văn hoạch định tài chính

1.1.2. Vai trò của tài chính doanh nghiệp (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

  • Tài chính doanh nghiệp là công cụ huy động đầy đủ và kịp thời các nguồn tài chính nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường và liên tục

Đối với các doanh nghiệp, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải có các yếu tổ cần thiết: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động, từ đó đòi hỏi doanh nghiệp cần phải có một lượng tiền tệ hay vốn nhất định. Vì vậy, vốn được coi là tiền đề cho mọi hoạt động của DN. Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp thường nảy sinh các nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động SXKD thường xuyên cũng như hoạt đông đầu tư phát triển. Việc thiếu vốn sẽ làm cho hoạt động của doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc không triển khai được, từ đó gây ảnh hưởng tới mục tiêu của doanh nghiệp. Do đó việc đảm bao huy động vốn đầy đủ, kịp thời là hết sức quan trọng.

Vai trò của tài chính doanh nghiệp trước hết thể hiện ở chỗ xác định đúng đắn các nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ và tiếp đó phải lựa chọn các phương pháp và hình thức thích hợp huy động vốn từ bên trong và bên ngoài đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp. Ngày nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế đã nảy sinh nhiều hình thức mới cho phép các doanh nghiệp huy động các nguồn vốn từ bên ngoài. Do vậy vai trò của tài chính doanh nghiệp ngày càng trở nên quan trọng hơn trong việc chủ động lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động liên tục và có hiệu quả với chi phí huy động vốn ở mức thấp nhất. (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

  • Tài chính doanh nghiệp có vai trò trong việc tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả

Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức sử dụng vốn. Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng vào việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư trên cơ sở phân tích khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của các dự án đầu tư từ đó góp phần lựa chọn dự án đầu tư tối ưu. Việc huy động vốn kịp thời các nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng đế doanh nghiệp có thể nắm bắt được các cơ hội kinh doanh. Mặt khác việc huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh có thể giảm bớt và tránh được những thiệt hại do ứ đọng vốn gây ra, đồng thời giảm bớt được nhu cầu vay vốn, từ đó giảm được các khoản tiền trả lãi vay. Việc hình thành và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp, cùng với việc sử dụng các hình thức thưởng phạt vật chất một cách hợp lý sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy người lao động gắn bó với doanh nghiệp từ đó nâng cao năng suất lao động, cải tiến kỹ thuật, nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

  • Tài chính doanh nghiệp có vai trò là đòn bẩy kích thích và điều tiết hoạt động kinh doanh:

Thu nhập bằng tiền của doanh nghiệp được tài chính doanh nghiệp phân phối. Thu nhập bằng tiền mà doanh nghiệp đạt được do thu nhập bán hàng trước tiên phải bù đắp các chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất như: bù đắp hao mòn máy móc thiết bị, trả lương cho người lao động và để mua nguyên nhiên liệu để tiếp tục chu kỳ sản xuất mới, thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước. Phần còn lại doanh nghiệp dùng hình thành các quỹ của doanh nghiệp, thực hiện bảo toàn vốn, hoặc trả lợi tức cổ phần (nếu có). Chức năng phân phối của tài chính doanh nghiệp là quá trình phân phối thu nhập bằng tiền của doanh nghiệp và quá trình phân phối đó luôn gắn liền với những đặc điểm vốn có của hoạt động SXKD và hình thức sở hữu doanh nghiệp. (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Ngoài ra nếu người quản lý biết vận dụng sáng tạo các chức năng phân phối của tài chính doanh nghiệp phù hợp với qui luật sẽ làm cho tài chính DN trở thành đòn bẩy kinh tế có tác dụng trong việc tạo ra những động lực kinh tế tác động tới tăng năng suất, kích thích tăng cường tích tụ và thu hút vốn, thúc đẩy tăng vòng quay vốn, kích thích tiêu dùng xã hội.

– Tài chính doanh nghiệp là công cụ giám sát, kiểm tra chặt chẽ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Quá trình hoạt động kinh doanh của DN cũng là quá trình vận động, chuyển hóa hình thái của vốn tiền tệ. Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày, tình hình tài chính và thực hiện các chỉ tiêu tài chính, lãnh đạo và các nhà quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá tổng hợp và kiểm soát được các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện được kịp thời những tồn tại hay khó khăn vướng mắc trong hoạt động SXKD, từ đó có thể đưa ra các quyết định để điều chỉnh các hoạt động cho phù hợp với diễn biến thực tế kinh doanh.

Xem nhiều cơ sở lý luận khác tại đây

===> Cơ Sở Lý Luận Trong Luận Văn

1.2. Khái quát về năng lực tài chính doanh nghiệp (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

1.2.1. Khái niệm năng lực tài chính của doanh nghiệp

Theo Từ điển tiếng Việt, “Năng lực” là khả năng đủ để làm một công việc nào đó hay “Năng lực” là những điều kiện được tạo ra hoặc vốn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Tài chính (như đã đề cập ở trên) là một phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị, phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định.

Vậy “Năng lực tài chính của một doanh nghiệp” là khả năng đảm bảo về nguồn lực tài chính của bản thân doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu doanh nghiệp đề ra. Một doanh nghiệp có đủ năng lực tài chính là doanh nghiệp có khả năng thanh toán thể hiện ở quy mô vốn, chất lượng tài sản… để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động đầu tư, duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, hướng tới việc đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, hướng tới tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.

Năng lực tài chính của doanh nghiệp còn là khả năng mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu huy động vốn kinh doanh, là khả năng tạo tiền, tổ chức lưu chuyển tiền hợp lý tăng khả năng sinh lời, khả năng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro, khả năng quản lý tài chính.

1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Năng lực tài chính của doanh nghiệp có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh. Các nhà quản lý doanh nghiệp quan tâm đến tình hình và kết quả hoạt động tài chính nhằm có giải pháp hoạch định và quản lý kinh doanh có hiệu quả. Ngân hàng xem xét đến khả năng thu nhập bằng tiền và khả năng trả nợ lâu dài. Các nhà cung cấp nguyên nhiên liệu và các yếu tố đầu vào quan tâm đến khả năng thanh khoản của doanh nghiệp. Các nhà đầu tư thì đặc biệt quan tâm đến khả năng sinh lời của công ty để có thể trả cổ tức cho cổ đông, nâng cao trị giá cổ phiếu và tránh được rủi ro dẫn đến phá sản.

Việc nâng cao năng lực tài chính đảm bảo yêu cầu tối đa hóa giá trị cho chủ sở hữu và mục tiêu tăng trưởng của doanh nghiệp Khi năng lực tài chính của DN được nâng cao, doanh nghiệp sẽ có cơ hội tiếp cận nhiều nguồn vốn hơn do uy tín của doanh nghiệp tăng lên. Khi đó DN huy động được đầy đủ, kịp thời lượng vốn cần thiết đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh với những nguồn vốn có chất lượng cao, chi phí thấp, góp phần giảm chi phí sử dụng vốn bình quân, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần nâng cao hiệu quả SXKD. An ninh tài chính cũng được đảm bảo. Bên cạnh đó, khi năng lực tài chính của DN được nâng cao đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đảm bảo được khả năng thanh toán, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tạo được uy tín đối với nhà cung cấp, khách hàng, từ đó nhận được những ưu đãi từ nhà cung cấp, thị trường tiêu thụ mở rộng lại góp phần tăng hiệu quả kinh doanh. Khi đó, mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp được thực hiện, giá trị của doanh nghiệp ngày càng tăng lên và cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đạt được mục tiêu tăng trưởng.

Việc nâng cao năng lực tài chính giúp doanh nghiệp tăng cường khả năng đối phó với những biến động của nền kinh tế

Nền kinh tế luôn luôn biến động không ngừng. Tính phức tạp của biến động kinh tế cũng ngày càng tăng lên khi quy mô hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã tăng từ cấp khu vực lên toàn cầu. Những biến động đó có thể tạo ra cơ hội và cả những thách thức không nhỏ với doanh nghiệp. (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Hiện nay, với sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường, cộng với khó khăn chung của nền kinh tế đã khiến các doanh nghiệp ở hầu hết các lĩnh vực đều phải đối mặt với tình trạng đình trệ và có nguy cơ phá sản. Khó khăn chính mà các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt là tình trạng thiếu vốn, giá nguyên liệu đầu vào tăng, sức tiêu thụ giảm. Bên canh đó, ảnh hưởng của giá cả thị trường khiến cho đời sống người lao động gặp nhiều khó khăn và đã gây áp lực trực tiếp lên doanh nghiệp. Chính vì vậy, việc nâng cao năng lực tài chính sẽ giúp doanh nghiệp đối phó tốt với những khó khăn này.

Việc nâng cao năng lực tài chính giúp doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu hội nhập tài chính quốc tế

Nền kinh tế Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, mở ra nhiều cơ hội lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam, hướng tới sự hội nhập và phát triển toàn diện, sánh vai cùng với các cường quốc trên thế giới hiện nay. Nhưng đồng thời với các cơ hội đó, các doanh nghiệp Việt Nam cũng gặp rất nhiều thách thức. Không chỉ đối mặt với sự cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp trong nước còn lao đao khi có sự xâm nhập ngày một sâu rộng của các công ty nước ngoài nhằm tìm chỗ đứng cho mình tại thị trường Việt Nam. Đứng trước hoàn cảnh đó, nếu các doanh nghiệp Việt Nam không có chiến lược đúng đắn, tiềm lực tài chính vững mạnh thì với xu thế hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam rất dễ bị đánh bật khỏi thị trường trong nước và nhường chỗ cho các công ty nước ngoài. Để tồn tại thì các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ quản lý, điều hành, hiện đại hóa công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng phục vụ để góp phần nâng cao năng lực tài chính, từ đó giúp doanh nghiệp có thể đứng vững trên thị trường và phát triển thị phần, nâng cao vị thế của mình trong nước cũng như trên trường quốc tế.

Xem nhiều lời mở đầu tại đây:

===> Lời mở đầu trong luận văn thạc sĩ

1.2.3. Các tiêu chí đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Năng lực tài chính của doanh nghiệp được đánh giá dựa trên các yếu tố định lượng và các yếu tố định tính:

  • Các yếu tố định lượng thể hiện nguồn lực tài chính hiện có, bao gồm: quy mô vốn; chất lượng, cơ cấu tài sản; khả năng thanh toán nợ ngắn hạn; và khả năng sinh lời…
  • Các yếu tố định tính thể hiện ở: khả năng khai thác, quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính được thể hiện qua trình độ tổ chức, trình độ quản lý, trình độ khoa học công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực…

Để dễ dàng cho việc đánh giá, xem xét năng lực tài chính của một DN, ta có thể phân chia thành các nhóm chỉ tiêu như sau:

  • Khả năng huy động và sử dụng vốn, đảm bảo nguồn lực tài chính cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
  • Khả năng thanh toán
  • Hiệu quả sử dụng vốn
  • Khả năng quản trị rủi ro

1.2.3.1. Khả năng huy động vốn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Quy mô, cơ cấu nguồn vốn

Quy mô vốn

Trong nền kinh tế thị trường, DN có thể huy động, sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau để đáp ứng nhu cầu về vốn của mình. Nhìn tổng thể dựa trên tiêu chí về nguồn gốc của nguồn vốn (NV), thì nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm: vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.

  • Vốn chủ sở hữu (VCSH) là các nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong các công ty cổ phần. Có ba nguồn tạo nên vốn chủ sở hữu: số tiền góp vốn của các nhà đầu tư, tổng số tiền tạo ra từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (lợi nhuận chưa phân phối) và chênh lệch đánh giá lại tài sản. Vốn chủ sở hữu bao gồm: vốn kinh doanh (vốn góp và lợi nhuận chưa chia), chênh lệch đánh giá lại tài sản, các quỹ của doanh nghiệp như: quỹ phát triển, quỹ dự trữ, quỹ khen thưởng phúc lợi… Ngoài ra vốn chủ sở hữu còn gồm vốn đầu tư xây dựng cơ bản và kinh phí sự nghiệp (kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp phát không hoàn lại…) (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)
  • Nợ phải trả là biểu hiện bằng tiền những nghĩa vụ mà chủ doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán cho các thành phần kinh tế khác bao gồm: nợ phải trả từ việc vay vốn, phải trả nhà cung cấp, các khoản phải nộp nhà nước, các khoản phải thanh toán với người lao động trong doanh nghiệp.

Vốn vay có vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó có thể đáp ứng các nhu cầu về vốn trong ngắn hạn hoặc dài hạn, có thể huy động được số vốn lớn, tức thời. Tuy nhiên, sử dụng vốn vay phải hết sức chú ý đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp, kế hoạch sử dụng vốn phải đảm bảo hợp lý, đúng mục đích; quản lý tốt quỹ tiền mặt, kỳ trả nợ và kỳ thu tiền, kế hoạch sản xuất kinh doanh phải được lập bám sát thực tế… nếu không vốn vay sẽ trở thành một gánh nặng đối với doanh nghiệp. Bên cạnh vốn vay, DN còn có nguồn vốn không thường xuyên là vốn chiếm dụng của bên thứ ba như vốn chiếm dụng của nhà cung cấp (tín dụng thương mại), lương cán bộ công nhân viên chậm thanh toán… (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Để đánh giá đúng năng lực tài chính của DN thông qua chỉ tiêu nguồn vốn thi vốn chủ sở hữu phải được xem xét nhiều nhất. Doanh nghiệp có VCSH lớn, chứng tỏ có tiềm lực tài chính vững chắc thì tạo được lòng tin đối với đối tác do khả năng chi trả thanh toán được đảm bảo. VCSH càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng đối phó tốt với những nguy cơ tiềm tàng, các tác động xấu đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp trong điều kiện kinh doanh ngày càng, khó khăn như hiện nay.

Một trong những chỉ tiêu quan trọng nhằm đánh giá khả năng tài chính vững vàng mức độ tài trợ của VCSH cho hoạt động SXKD của DN là tỷ suất tự tài trợ tài sản dài hạn:

Tỷ suất này lớn hơn 1 thể hiện khả năng tài chính vững vàng, vốn chủ sở hữu của DN đáp ứng được nhu cầu cho mua sắm TSDH phục vụ SXKD của doanh nghiệp, góp phần đảm bảo an toàn trong kinh doanh. Ngược lại, nếu nhỏ hơn 1 có nghĩa là một phần tài sản dài hạn được tài trợ bằng nguồn vốn vay. Nếu vốn vay đó là vốn ngắn hạn thì DN đang kinh doanh trong cơ cấu vốn mạo hiểm.

Cơ cấu nguồn vốn (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Cơ cấu nguồn vốn phản ánh thành phần và tỷ trọng của từng nguồn so với tồng nguồn vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định mà doanh nghiệp huy động, sử dụng vào hoạt động SXKD.

Trong điều kiện hiện nay, có nhiều kênh để DN có thể huy động được lượng vốn cần thiết, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của mình. Tuy nhiên, điều quan trọng là doanh nghiệp cần phối hợp huy động và sử dụng các nguồn vốn để tạo ra một cơ cấu vốn hợp lý nhằm đưa lại lợi ích tối đa cho DN.

Quyết định về cơ cấu nguồn vốn là vấn đề tài chính hết sức quan trọng vì cơ cấu nguồn vốn là một trong các yếu tố quyết định đến chi phí sử dụng vốn bình quân của DN. Cơ cấu nguồn vốn ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu hay thu nhập trên một cổ phần và rủi ro tài chính của một DN hay công ty cổ phần.

Cũng chính vì vậy mà cơ cấu nguồn vốn là một trong những tiêu chí phản ánh năng lực tài chính của doanh nghiệp. Khi cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp là an toàn tối ưu; nguồn vốn của doanh nghiệp được huy động, phân phối và sử dụng hiệu quả thì tình hình tài chính của DN có căn cứ để đánh giá là tốt. (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Khi xem xét cơ cấu NV, người ta thường chú trọng đến mối quan hệ giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Cơ cấu nguồn vốn của DN được thể hiện qua các chỉ tiêu chủ yếu sau:

  1. Tỷ số nợ hoặc tỷ số vốn chủ sở hữu (tỷ suất tự tài trợ) Tỷ số nợ

Tỷ số nợ được đo bằng tỷ số giữa tổng nợ phải trả và tổng NV hay tổng tài sản của DN:

Tổng số nợ ở đây bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn phải trả. Chủ nợ thường thích công ty có tỷ số nợ thấp vì như vậy công ty có khả năng trả nợ cao hơn. Ngược lại, cổ đông muốn có tỷ số nợ cao vì như vậy làm gia tăng khả năng sinh lợi cho cổ đông. Tuy nhiên muốn biết tỷ số này cao hay thấp cần phải so sánh với tỷ số nợ của bình quân ngành. Tỷ số nợ càng thấp thì mức độ bảo vệ dành cho các chủ nợ càng cao trong trường hợp doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản và phải thanh lý tài sản.

Rất khó để có thể đánh giá được mức độ vay nợ phù hợp với doanh nghiệp hay tỷ số nợ như thể nào là tốt đối với một DN nói chung, vì tỷ số nợ phụ thuộc rất nhiều yếu tố: loại hình doanh nghiệp, quy mô của doanh nghiệp, tính chất – lĩnh vực hoạt động, mục đích vay…Và cũng tùy vào từng thời kỳ phát triển của doanh nghiệp mà có tỷ số nợ phù hợp khác nhau. Tuy nhiên thông thường tỷ số nợ trên 50% là chấp nhận được. (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

  1. Tỷ số vốn chủ sở hữu hay tỷ suất tự tài trợ

Nhìn tổng thể nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm nợ phải trả và vốn chủ sở hữu Do đó có thể chủ sở hữu hay tỷ suất tự xem xét cơ cấu NV của doanh nghiệp qua tỷ số vốn tài trợ:

Hệ số này phản ánh tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của doanh nghiệp. Để xác định mức độ phù hợp về tỷ lệ vốn chủ sở hữu trong nguồn vốn của doanh nghiệp sẽ phụ thuộc rất lớn vào hoạt động và chính sách của từng doanh nghiệp cũng như từng ngành.

Tỷ số này cao chứng tỏ khả năng tự chủ tài chính và tính ổn định dài hạn của doanh nghiệp, nhưng cũng cho thấy doanh nghiệp chưa tận dụng đòn bẩy tài chính nhiều. Đối với các ngân hàng, tỷ suất này của khách hàng càng cao càng tốt, nhưng tối thiểu phải 30% mới gọi là có khả năng tự chủ về tài chính.

Tỷ suất tự tài trợ càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều vốn tự có, có tính độc lập cao với các chủ nợ, do đó không bị ràng buộc hoặc bị sức ép của các khoản vay. Các chủ nợ thường thích tỷ suất tự tài trợ càng cao càng tốt. Chủ nợ nhìn vào tỷ số này đế tin tưởng một sự đảm bảo cho các món nợ vay được hoàn trả đúng hạn.

  1. Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp còn được thể hiện qua tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu:

Thông thường, nếu tỷ số này lớn hơn 1, có nghĩa là tài sản của DN được tài trợ chủ yếu bởi các khoản nợ, còn ngược lại thì tài sản của DN được tài trợ chủ yếu bởi nguồn vốn chủ sở hữu. Về nguyên tác, tỷ số này càng nhỏ, có nghĩa là nợ phải trả chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng tài sản hay tổng nguồn vốn thì DN ít gặp khó khăn hơn trong tài chính. Tỷ số này càng lớn thì khả năng gặp khó khăn trong việc trả nợ hoặc phá sản của DN càng lớn.

Trên thực tế nếu nợ phải trả chiếm quá nhiều so với nguồn vốn chủ sở hữu có nghĩa là DN đi vay mượn nhiều hơn số vốn hiện có, nên DN có thể gặp rủi ro trong việc trả nợ, đặc biệt là càng gặp nhiều khó khăn hơn khi lãi suất ngân hàng ngày một tăng cao.

Cơ cấu nguồn vốn hợp lý phản ánh chất lượng nguồn vốn của doanh nghiệp. Điều đó đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường và liên tục. Vì vậy, nâng cao chất lượng nguồn vốn là việc làm cân thiết ở môi doanh nghiệp, góp phần nâng cao năng lực tài chính cho doanh nghiệp. (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Huy động vốn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh

Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay, khi mà những cơ hội kinh doanh chỉ đến trong chớp nhoáng, DN muốn thành công thì đòi hỏi doanh nghiệp phải nhanh nhạy nắm bắt thời cơ. Khi đã nắm bắt được thời cơ đó thì vấn đề còn lại là liệu DN có huy động được đủ vốn để biến thời cơ thành hiện thực hay không. Do đó, việc xây dựng được một cơ cấu vốn hợp lý là hết sức quan trọng, nhưng việc huy động được một lượng vốn đầy đủ, kịp thời nhằm đảm bảo cho hoạt động SXKD được diễn ra bình thường, liên tục mới là yếu tố quyết định đến hiệu quả kinh doanh. Nhưng như thế nào là kịp thời thì không thể định lượng được, vì vậy, đây là một chỉ tiêu mang tính định tính.

Ngoài việc đảm bảo nhu cầu vốn thường xuyên, DN phải luôn chủ động, linh hoạt đê tìm được nguồn vốn sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu vốn bất thường phát sinh trong quá trình SXKD. Để làm được điều này, thì uy tín của doanh nghiệp là rất quan trọng. Với những DN được khách hàng, đối tác tin tương, việc này trở nên dễ dàng hơn, được ưu tiên hơn những doanh nghiệp khác trong điều kiện nguồn vốn ngày càng trở nên khó khăn khan hiếm. (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Quy mô, cơ cấu và chất lượng của tài sản Quy mô, cơ cấu của tài sản

Mỗi doanh nghiệp khác nhau thì có một quy mô, kết cấu tài sản khác nhau, phù hợp với đặc điểm riêng của từng doanh nghiệp. Quy mô của tài sản thể hiện sự lớn mạnh của doanh nghiệp, khả năng trang bị cho nhu cầu SXKD, từ đó thể hiện năng lực sản xuất và xu hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp.

Cơ cấu tài sản phản ánh tỷ trọng từng loại tài sản trong tổng tài sản của doanh nghiệp qua đó thể hiện vị trí, vai trò của từng loại tài sản trong doanh nghiệp. Cũng qua đó phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất kĩ thuật nói chung và máy móc thiết bị nói riêng phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp. Một cơ cấu của tài sản hợp lý còn thể hiện năng lực quản lý, trình độ tổ chức của các nhà quản trị doanh nghiệp. Cơ cấu tài sản hợp lý giúp DN tận dụng được hết năng lực hoạt động của tài sản, tiết kiệm chi phí sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp.

Để đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp qua quy mô, cơ cấu của tài sản ta phải căn cứ vào hình thức pháp lý, lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh, đặc điểm kinh tế, kĩ thuật của ngành kinh doanh cũng như nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp trong từng thời kì phát triển.

Chất lượng của tài sản (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Chất lượng tài sản phản ánh ở việc tài sản của doanh nghiệp được sử dụng như thế nào, có phát huy được hết khả năng hoạt động của nó hay không. Đây là một chỉ tiêu nói lên tính bền vững về tài chính, năng lực tổ chức quản lý của doanh nghiệp. Cùng với việc đảm bảo đủ vốn cho SXKD thì việc nâng cao chất lượng của tài sản trong doanh nghiệp là một yếu tố vô cùng quan trọng và cần thiết đối với hoạt động SXKD của doanh nghiệp.

Tài sản của doanh nghiệp gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Tài sản của doanh nghiệp gồm rất nhiều loại, tồn tại ở các dạng khác nhau như: tiền và tương đương tiền, hàng tồn kho, các khoản phải thu, tài sản cố định, các khoản đầu tư tài chính… Mỗi loại tài sản trong doanh nghiệp có chất lượng là khi tài sản đó được trang bị ở một mức độ hợp lý đảm bảo hiệu quả cho các hoạt động của doanh nghiệp. Ví dụ như đối với tiền mặt, các lý thuyết tài chính doanh nghiệp nói rằng mỗi doanh nghiệp nên có một mức tiền mặt thích hợp cho doanh nghiệp mình một lượng đủ để thanh toán lãi vay, thanh toán các khoản nợ khi đến hạn, các chi phí và chi tiêu vốn, ngoài ra còn phải dự trữ thêm một lượng để doanh nghiệp kịp xử lý trong những tình huống khẩn cấp. Việc dự trữ quá nhiều sẽ dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn thấp, chi phí cao. (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Còn việc dự trữ quá ít dễ dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán khi có các tình huống bất ngờ xảy ra trong kinh doanh. Đối với các khoản phải thu, doanh nghiệp nên ghi chép để theo dõi những khoản gần đến hạn để có kế hoạch thu hồi, đặc biệt trước khi cấp tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp nên tìm hiêu thông tin, mức độ tín nhiệm của khách hàng. Đối với hàng tồn kho, thật khó để nói tồn kho bao nhiêu là vừa vì tùy đặc điểm ngành nghề, tùy chiến lược kinh doanh và tầm nhìn xa của chủ doanh nghiệp. Để biết mức tồn kho thế nào là hợp lý, các doanh nghiệp cần nắm bắt nhu cầu thị trường, hoạch định cung ứng, tính toán lượng đặt hàng và xác định được thời điểm đặt hàng. Đối với tài sản dài hạn, đặc biệt là tài sản cố định, do tính chất của loại tài sản này thường có giá trị lớn nên doanh nghiệp cần tính toán để trang bị những thiết bị có công suất phù hợp.

Tóm lại, mức độ hợp lý của từng loại tài sản phụ thuộc vào đặc trưng của từng DN và đặc điểm của từng tài sản và muốn hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả thì DN phải có kế hoạch khai thác và sử dụng hết công suất, tính năng của tùng loại tài sản đó, tránh lãng phí nguồn lực.

1.2.3.2. Tính thanh khoản hay khả năng thanh toán của doanh nghiệp: (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Tính thanh khoản hay khả năng thanh toán của doanh nghiệp là năng lực về tài chính mà doanh nghiệp có được để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ cho các cá nhân, tổ chức có quan hệ cho doanh nghiệp vay hoặc nợ. Năng lực tài chính đó tồn tại dưới dạng tiền tệ (tiền mặt, tiền gửi…), các khoản phải thu từ các cá nhân mắc nợ doanh nghiệp, các tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền như: hàng hóa, thành phẩm, hàng gửi bán. Các khoản nợ của doanh nghiệp có thể là các khoản vay ngân hàng, khoản nợ tiền hàng do xuất phát từ quan hệ mua bán các yếu tố đầu vào hoặc sản phẩm hàng hóa doanh nghiệp phải trả cho người bán hoặc người mua đặt trước, các khoản thuế chưa nộp ngân hàng nhà nước, các khoản chưa trả lương.

Khả năng thanh toán được đo lường thông qua các tỷ số tài chính sau:

  • Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn (hệ số khả năng thanh toán hiện thời):

Hệ số khả năng thanh toán hiện thời đo lường khả năng thanh toán nợ ngắn hạn (những khoản nợ có thời hạn dưới một năm) bằng các tài sản có thể chuyển đổi trong thời gian ngắn (thường dưới một năm) như tiền mặt, các khoản phải thu, hàng tồn kho… HS này được tính theo cộng thức sau: (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Hệ số này càng cao, khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng lớn. Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp có khả năng không hoàn thành được nghĩa vụ trả nợ của mình khi tới hạn. Mặc dù với tỷ lệ nhỏ hơn 1, có khả năng không đạt được tình hình tài chính tốt, nhưng điều đó không có nghĩa là công ty sẽ bị phá sản vì có rất nhiều cách để huy động thêm vốn.

Tỷ lệ này cho phép hình dung ra chu kì hoạt động của công ty xem có hiệu qua không, hoặc khả năng biến sản phẩm thành tiền mặt có tốt không. Tuy nhiên, nếu hàng tồn kho của doanh nghiệp thuộc loại khó bán thì DN lại gặp khó khăn trong vấn đề trả nợ và hệ số này đã phản ánh không chính xác khả năng thanh toán của DN. Vì vậy cân quan tâm đến hệ số khả năng thanh toán nhanh.

  • Hệ số khả năng thanh toán nhanh:

Hệ số khả năng thanh toán nhanh phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng số tiền hiện có và tài sản ngắn hạn có thể chuyển đổi nhanh thành tiền trong doanh nghiệp.

Khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp cao hay thấp, tình hình tài chính được đánh giá tốt hay xấu tùy thuộc vào lượng tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn lớn hay bé, nợ ngắn hạn nhỏ hay lớn. (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

  • Hệ số khả năng thanh toán tức thời:

Hệ số khả năng thanh toán tức thời đánh giá khả năng nhanh nhất của doanh nghiệp sử dụng tài sản của mình (dưới hình thức tiền và tương đương tiền) để trả các khoản nợ ngắn hạn.

  • Hệ số khả năng thanh toán lãi vay:

Hệ số khả năng thanh toán lãi vay cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng trả lãi như thế nào. Nếu công ty quá yếu về mặt này, các chủ nợ có thể đi đến gây sức ép lên công ty, thậm chí dẫn tới phá sản công ty. Hệ số khả năng thanh toán lãi vay được tính bằng tỷ số giữa lợi nhuận trước thuế và lãi vay trên lãi vay phải trả: (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Việc tìm xem một công ty có thể thực hiện trả lãi đến mức độ nào cũng rất quan trọng. Rõ ràng, tỷ số khả năng thanh toán lãi vay càng cao thì khả năng thanh toán lãi của doanh nghiệp cho các chủ nợ của mình càng lớn. Khả năng trả lài vay của doanh nghiệp thấp cũng thể hiện khả năng sinh lợi của tài sản thấp. Khả năng thanh toán lãi vay thấp cho thấy một tình trạng nguy hiểm, suy giảm trong hoạt động kinh tế có thể làm giảm lãi trước thuế và lãi vay xuống dưới mức nợ lãi mà công ty phải trả, do đó dẫn tới mất khả năng thanh toán và vỡ nợ. Tuy nhiên rủi ro này được hạn chế bởi thực tế lãi trước thuế và lãi vay không phải là nguồn duy nhất để thanh toán lãi. Các doanh nghiệp cũng có thể tạo ra nguồn tiền mặt từ khấu hao và có thể sử dụng nguồn vốn đó để trả nợ lãi. Nhũng gì mà một doanh nghiệp cần phải đạt tới là tạo ra một độ an toàn hợp lý, bảo đảm khả năng thanh toán cho các chủ nợ của mình.

1.2.3.3. Khả năng quản trị rủi ro (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Khả năng quản trị rủi ro: Doanh nghiệp cần có các biện pháp phòng ngừa rủi ro cũng như khả năng bù đắp tổn thất khi xảy ra rủi ro trong hoạt động kinh doanh.

Doanh nghiệp phải có nguồn tài chính nhằm bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra: như từ việc mua bảo hiểm; từ quỹ dự phòng tài chính, từ lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hóa,…

1.2.3.4. Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh

Ngày nay, một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường đòi hỏi doanh nghiệp đó phải biết sử dụng vốn triệt để và không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh mà đặc biệt là vốn lưu động, vốn lưu động là bộ phận rất quan trọng trong vốn sản xuất kinh doanh và nó thường chiếm tỷ trọng rất lớn ở những doanh nghiệp thương mại. Có thể nói trong doanh nghiệp thương mại, vốn lưu động là bộ phận sinh lời nhiều nhất. Chỉ khi nào doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì doanh nghiệp đó mới có vốn để tái đầu tư giản đơn và tái đầu tư mở rộng nhằm đem lại lợi nhuận ngày càng cao cho doanh nghiệp trong hành lang pháp lý về tài chính và tín dụng mà nhà nước đã quy định.

Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của DN, ta xem xét các chỉ tiêu sau:

– Vòng quay khoản phải thu: (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Vòng quay các khoản phải thu: phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu thành tiền mặt. Chỉ số này là thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Khoản tiền phải thu từ khách hàng là số tiền mà khách hàng hiện tại vẫn còn chiếm dụng của doanh nghiệp. Chỉ đến khi khách hàng thanh toán bằng tiền cho khoản phải thu này thì coi như lượng vốn mà doanh nghiệp bị khách hàng chiếm dụng mới không còn nữa.

Nói chung, hệ số vòng quay các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao. Điều này giúp cho doanh nghiệp nâng cao luồng tiền mặt, tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất. Ngược lại, nếu hệ số này càng thấp thì số tiền của doanh nghiệp bị chiếm dụng ngày càng nhiều, lượng tiền mặt sẽ ngày càng giảm, làm giảm sự chủ động của doanh nghiệp trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất và có thể doanh nghiệp sẽ phải đi vay ngân hàng để tài trợ thêm cho nguồn vốn lưu động này.

– Kỳ thu tiền trung bình: (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Một chỉ tiêu ngược với vòng quay các khoản phải thu là kỳ thu tiền trung bình. Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy số ngày trong kỳ chia cho vòng quay các khoản phải thu. Ngược lại với chỉ số vòng quay các khoản phải thu, chỉ số kỳ thu tiền bình quân càng nhỏ thì tốc độ thu hồi công nợ phải thu của doanh nghiệp càng nhanh:

Trong mỗi ngành khác nhau thì chỉ số này cũng khác nhau và để đánh giá hiệu quả quản lý của doanh nghiệp, cần so sánh kỳ thu tiền trung bình với số ngày thanh toán cho các khoản công nợ phải thu mà doanh nghiệp đó quy định.

– Vòng quay hàng tồn kho và số ngày một vòng quay hàng tồn kho Hệ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ. Hệ số vòng quay hàng gạch men, gạch chịu lửa kho được xác định bằng giá vốn hàng bán chia cho bình quân hàng tồn kho: (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Các hệ số này được sử dụng để đánh giá hiệu quả quản trị HTK của doanh nghiệp. Hệ số vòng quay hàng tồn kho thường được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu qua từng năm. Hệ số này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngược lại, nếu hệ số này nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp, cần lưu ý, hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành nghề kinh doanh nên không phải cứ mức tồn kho thấp là tốt, mức tồn kho cao là xấu.

Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều. Có nghĩa là doanh nghiệp sẽ ít rủi ro hơn nêu khoản mục hàng tồn kho trong báo cáo tài chính có giá trị giảm qua các năm.

Tuy nhiên, hệ số này quá cao cũng không tốt, vì như vậy có nghĩa là lượng hàng dự trừ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần. Hơn nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ. Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho can phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng.

Để có thể đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, việc xem xét chỉ tiêu hàng tồn kho cần được đánh giá bên cạnh các chỉ tiêu khác như lợi nhuận, doanh thu, vòng quay của dòng tiền…, cũng như nên được đặt trong điều kiện kinh tế vĩ mô điều kiện thực tế của từng doanh nghiệp. (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Xem thêm nhiều đề cương chi tiết trong luận văn tại đây:

===> Đề cương chi tiết trong luận văn

Năng lực hoạt động của tài sản cố định và hiệu suất sử dụng tài sản cố định

Năng lực hoạt động của tài sản cố định: (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Tài sản cố định là tất cả những tài sản của doanh nghiệp có giá trị lớn, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi trên 1 năm hoặc trên 1 chu kỳ kinh doanh (nếu chu kỳ kinh doanh lớn hơn hoặc bằng 1 năm). Trên thực tế, khái niệm TSCĐ bao gồm những tài sản đang sử dụng, chưa được sử dụng hoặc không còn được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh do chúng đang trong quá trình hoàn thành (máy móc thiết bị đã mua nhưng chưa hoặc đang lắp đặt, nhà xưởng đang xây dựng chưa hoàn thành…) hoặc do chúng chưa hết giá trị sử dụng nhưng không được sử dụng. Những tài sản thuê tài chính mà doanh nghiệp sẽ sở hữu cũng thuộc về TSCĐ.

Tùy thuộc vào đặc điểm của từng DN mà tỷ trọng TSCĐ trong tổng tài sản và kết cấu của chúng cũng khác nhau. Tuy nhiên, dù là loại hình doanh nghiệp nào thì muốn đạt hiệu quả trong SXKD cũng cần phát huy hết năng lực hoạt động của tài sản nói chung và của TSCĐ nói riêng.

Hiệu suất sử dụng TSCĐ:

Để đánh giá khả năng quản trị, tổ chức sử dụng TSCĐ của DN ta phân tích chỉ tiêu hiệu suất sử dụng TSCĐ:

Chi số này có xu hướng chỉ ra mức độ hiệu quả trong sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Nếu chỉ số tổng doanh thu tài sản cao, có thể cho rằng doanh nghiệp đã sử dụng tài sản tạo ra doanh thu hiệu quả. Nếu chỉ số này thấp, doanh nghiệp chưa khai thác hết công suất các tài sản hiện có, do đó, cần tăng doanh số hoặc bán bớt tài sản. Một vấn đề thường gặp phải với chỉ số này là việc tận dụng tối đa các tài sản cũ bởi giá trị kế toán của các tài sản này luôn thấp hơn các tài sản mới và có cùng công năng sử dụng. Tuy vậy, cần lưu ý tới vấn đề công nghệ ở đây. Ngoài ra, cũng có những doanh nghiệp do đặc thù kinh doanh mà có mức độ đầu tư tương đối bé cho tài sản. Doanh nghiệp thương mại thường có chỉ số tổng tài sản doanh thu nhỏ hơn khi so sánh với doanh nghiệp sản xuất.

Đánh giá hiệu quả sử dụng, vốn kinh doanh (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp người ta sử dụng nhóm hệ số hiệu quả hoạt động. Đây là thước đo đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Nó là kết quả tổng hợp của hàng loạt biện pháp và quyết định quản lý của doanh nghiệp. Hệ số hiệu quả hoạt động bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu sau.

Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần (ROS):

ROS cho biết lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm trong doanh thu. Nói cách khác, khi thực hiện một đồng doanh thu trong kỳ, doanh nghiệp có thể thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ số này mang giá trị dương nghĩa là công ty kinh doanh có lãi; tỷ số càng lớn nghĩa là lãi càng lớn. Tỷ số mang giá trị âm nghĩa là công ty kinh doanh thua lỗ. Tuy nhiên, tỷ số này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành. Vì thế, khi theo dõi tình hình sinh lợi của công ty, người ta so sánh tỷ số này của công ty với tỷ số bình quân của toàn ngành mà công ty đó tham gia.

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

Tài sản của một công ty được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu. Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của công ty. Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA. ROA cao thì càng tốt vì công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn.

ROA sẽ cung cấp thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư (hay lượng tài sản). ROA đối với các công ty khác nhau có sự khác biệt rất lớn và phụ thuộc nhiều vào ngành kinh doanh. Đó là lý do tại sao khi sử dụng ROA để so sánh các công ty, tốt hơn hết là nên so sánh ROA của mỗi công ty qua các năm và so giữa các công ty tương đồng nhau.

Chỉ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy tạo ra bao nhiêu đồng lời. Tỷ số ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả VCSH, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa VCSH với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô. (Cơ Sở Lý Luận Về Hoạch Định Tài Chính Doanh Nghiệp)

DOWNLOAD FILE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chat Zalo
Chat Facebook
0932091562