Cơ Sở Lý Luận Về Quản Lý Tài Sản Công Tại Các Bệnh Viện

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

Cơ Sở Lý Luận Về Quản Lý Tài Sản Công Tại Các Bệnh Viện. Tài liệu này được Luận văn Panda sưu tầm từ nhiều nguồn luận văn thạc sĩ đạt điểm cao của các công trình học viên khóa trước. Hy vọng với nội dung bài viết Cơ Sở Lý Luận Về Quản Lý Tài Sản Công Tại Các Bệnh Viện. Sẽ hỗ trợ cho các bạn học viên đang làm Luận văn thạc sĩ ngành Luật có thêm nguồn tài liệu tham khảo.

Ngoài ra, để hỗ trợ thêm cho nhiều bạn học viên đang tìm kiếm tài liệu luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản Lý Kinh Tế, và những tài liệu liên quan đến luận văn thạc sĩ ngành Quản Lý Kinh Tế về Cơ Sở Lý Luận Về Quản Lý Tài Sản Công Tại Các Bệnh Viện, Luận văn Panda có chia sẻ nhiều tài liệu luận văn ngành Quản Lý Kinh Tế chọn lọc, nhằm hỗ trợ các bạn học viên đang làm luận văn được tốt hơn. Các bạn có thể tham khảo nhiều bài luận văn tại đây.

===>>> KHO 999 + Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Kinh Tế

1 Khái niệm và đặc điểm về tài sản công

1.1 Khái niệm

  • Pháp, “Tài sản quốc gia được hiểu là toàn bộ tài sản và quyền hạn đối với động sản và bất động sản thuộc về Nhà nước” (Điều 1 Bộ luật Tài sản nhà nước năm 1998).
  • Việt Nam, Điều 17 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn do Nhà nước đầu tư vào xí nghiệp, công trình thuộc các ngành, lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước đều thuộc sở hữu toàn dân”.

Điều 200 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định tài sản thuộc hình thức sở hữu Nhà nước như sau: “Tài sản thuộc hình thức sở hữu Nhà nước bao gồm đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, núi, sông, hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi từ nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác do pháp luật quy định”.

Tiếp đó, tại các Điều 239, 240, 241, 246, 254 và 644 của Bộ luật Dân sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Điều 17 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002, Điều 35 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 đã quy định cụ thể các tài sản khác thuộc sở hữu nhà nước do pháp luật quy định bao gồm: Các tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, vật chứng trong vụ án hình sự bị tịch thu sung quỹ Nhà nước; vật bị chôn dấu, chìm đắm được tìm thấy, vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu, vật do người khác đánh rơi, bỏ quên được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật, di sản không người thừa kế hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, tài sản do tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước biếu tặng Chính phủ hoặc tổ chức Nhà nước…

Theo Điều 3, Luật Tài sản công ban hành năm 2021 thì “Tài sản công là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, bao gồm: tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân; tài sản công tại doanh nghiệp; tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, dự trữ ngoại hối nhà nước; đất đai và các loại tài nguyên khác”.

Như vậy, tài sản công là những tài sản được hình thành từ nguồn ngân sách nhà nước, tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật.

1.2 Đặc điểm tài sản công

Tài sản công rất phong phú về số lượng chủng loại, mỗi loại tài sản có đặc điểm, tính chất, công dụng khác nhau song chúng đều có những đặc điểm chung sau:

Thứ nhất: Tài sản công được đầu tư xây dựng, mua sắm bằng kinh phí của ngân sách nhà nước, có nguồn từ ngân sách nhà nước hoặc từ các nguồn vốn đầu tư khác (trừ một số tài sản đặc biệt như: đất đai, tài sản được xác lập sở hữu Nhà nước được chuyển giao).

Bên cạnh đó là những tài sản được hình thành từ nguồn viện trợ không hoàn lại, tài sản do dân đóng góp xây dựng và tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước. Đối với tài sản này, ngân sách nhà nước không trực tiếp đầu tư xây dựng và mua sắm mà chỉ giao tài sản cho các cơ quan sử dụng. Nhưng các tài sản này trước khi giao cho các bệnh viện sử dụng, đều phải xác lập quyền sở hữu Nhà nước. Khi các tài sản này được xác lập quyền sở hữu Nhà nước, thì giá trị của các tài sản đều được ghi thu cho ngân sách nhà nước. Như vậy, suy cho cùng các tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước, tài sản viện trợ không hoàn lại, tài sản do dân đóng góp giao cho các cơ quan hành chính sử dụng vẫn có nguồn gốc hình thành từ ngân sách Nhà nước.

Thứ hai: Sự hình thành và sử dụng tài sản công phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan. Đối với cơ quan quản lý nhà nước, tài sản công chỉ đơn thuần là điều kiện vật chất, là phương tiện để cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. Tài sản công của các cơ quan này lớn nhất là trụ sở làm việc (công trường), các phương tiện giao thông vận tải phục vụ đi lại công tác, các trang thiết bị, máy móc và phương tiện làm việc. Số lượng tài sản công cần phải có tuỳ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy và biên chế cán bộ, công chức, viên chức của mỗi cơ quan, đơn vị.

Thứ ba: Vốn đầu tư xây dựng và mua sắm tài sản công không thu hồi được trong quá trình sử dụng tài sản công. Thực tế các nước trên thế giới cho thấy khoảng 80% chi Ngân sách nhà nước là chi chuyển giao và có rất ít khoản chi là chi thanh toán, được hoàn trả trực tiếp. Khác với doanh nghiệp kinh doanh, tài sản công trong cơ quan chủ yếu là những tài sản trong lĩnh vực tiêu dùng của cải vật chất, không thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh; trong quá trình sử dụng không tạo ra sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ để đưa ra thị trường; do đó, không chuyển giá trị bị hao mòn vào giá thành của sản phẩm hoặc chi phí lưu thông. Vì thế, trong quá trình sử dụng, tuy tài sản bị hao mòn nhưng không trích khấu hao được (đối với tài sản cố định), vì giá trị của nó không được chuyển dần sang giá trị của sản phẩm vật chất, dịch vụ để hình thành bộ phận giá trị mới cần phải thu hồi.

Do không thực hiện trích khấu hao tài sản cố định, nên nguồn vốn đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản không thu hồi được trong quá trình sử dụng và không có nghĩa vụ tài chính với ngân sách nhà nước trong việc sử dụng. Mức độ hao mòn của tài sản công trong quá trình sử dụng nhanh hay chậm không ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của cơ quan nhà nước được thụ hưởng, Nhà nước không sử dụng đòn bẩy trích khấu hao tài sản cố định để thúc đẩy các cơ quan bảo vệ tài sản công như đối với các tổ chức kinh tế sử dụng tài sản vào sản xuất kinh doanh. Nhà nước chỉ có thể buộc các cơ quan này quản lý và sử dụng tài sản công tiết kiệm và hiệu quả bằng các biện pháp hành chính như quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công, cùng với biện pháp quản lý chặt chẽ các khoản chi tiêu về duy trì, bảo dưỡng, sửa chữa tài sản công để buộc các cơ quan đơn vị sử dụng tài sản hiệu quả hơn.

2 Các chính sách Quốc gia về tài sản công

Tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập quản lý, sử dụng là cơ sở vật chất quan trọng để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cho xã hội, đồng thời là nguồn lực to lớn góp phần bảo đảm và nâng cao tự chủ tài chính của các đơn vị. Đổi mới cơ chế quản lý, sử dụng nhằm quản lý chặt chẽ và khai thác có hiệu quả nguồn lực từ tài sản công là giải pháp quan trọng để thực hiện thành công Nghị quyết 19/NQ-TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương.

Theo thống kê của Cơ sở dữ liệu quốc gia (CSDL) về tài sản nhà nước đến 30/9/2021, tổng nguyên giá của 4 loại tài sản lớn (nhà, đất, xe ô tô, tài sản khác có nguyên giá từ 500 triệu đồng trở lên) tại đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) (chưa bao gồm các Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lực lượng vũ trang nhân dân) là: 326.112 tài sản (chiếm 64,19% tổng số lượng tài sản nhà nước khu vực hành chính sự nghiệp), với tổng nguyên giá là 792.968,26 tỷ đồng (chiếm 72,60% tổng giá trị tài sản nhà nước khu vực hành chính sự nghiệp); trong đó, quyền sử dụng đất là 524.410,22 tỷ đồng, nhà là 193.871,71 tỷ đồng và tài sản khác là 74.686,33 tỷ đồng.

Trong thời gian qua, cơ chế và công tác quản lý, sử dụng tài sản công tại các Đơn vị sự nghiệp công lập đã đạt được những kết quả quan trọng. Nhà nước đã xây dựng, ban hành tương đối đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công, tạo hành lang pháp lý để đổi mới công quản lý, sử dụng tài sản công tại Đơn vị sự nghiệp công lập.

Chính phủ đã giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổ chức đánh giá tình hình triển khai Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008; Rà soát hệ thống pháp luật hiện hành có liên quan đến việc quản lý, sử dụng tài sản công; Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, xây dựng dự thảo Luật Quản lý, sử dụng tài sản công; Lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động của luật, các nhà khoa học, các chuyên gia… trên cơ sở đó, báo cáo Chính phủ để trình Quốc hội.

Ngày 21/6/2021, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Quản lý, sử dụng tài sản công để thay thế cho Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008. Luật này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. Với việc ban hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, cơ chế quản lý tài sản công tại Đơn vị sự nghiệp công lập tiếp tục được đổi mới mạnh mẽ với nhiều nội dung.

Chính sách quản lý tài sản công của Nhà nước bao gồm các nội dung cụ thể như sau:

  • Nhà nước có chính sách đầu tư, khai thác và bảo vệ tài sản công. Đối với chính sách đầu tư, tài sản công của các đơn vị ngoài việc hình thành từ nguồn Ngân sách nhà nước cấp phát trực tiếp còn được hình thành từ các nguồn khác. Nhà nước tạo cơ chế cho Đơn vị sự nghiệp công lập huy động các nguồn lực của xã hội để đầu tư cơ sở vật chất cung cấp dịch vụ công. Theo đó, các Đơn vị sự nghiệp công lập được đầu tư xây dựng công trình sự nghiệp theo hình thức đối tác công – tư; Được sử dụng tài sản để thanh toán cho nhà đầu tư thực hiện dự án BT; Được sử dụng tài sản của đơn vị để thế chấp hoặc thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự khác. Trong quá trình khai thác tài sản công, Nhà nước đưa ra chủ trương chính sách quy định rõ việc tính hao mòn và trích khấu hao tài sản cố định tại Đơn vị sự nghiệp công lập. Theo đó, tài sản cố định tại Đơn vị sự nghiệp công lập được tính hao mòn. Các tài sản cố định tại Đơn vị sự nghiệp công lập phải trích khấu hao gồm: Tài sản cố định tại Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; Tài sản cố định tại Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc đối tượng phải tính đủ khấu hao tài sản cố định vào giá dịch vụ theo quy định của pháp luật; Tài sản cố định của Đơn vị sự nghiệp công lập khác được sử dụng vào hoạt động kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết theo quy định của pháp luật. Số tiền trích khấu hao tài sản cố định được bổ sung quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của Đơn vị sự nghiệp công lập để bổ sung nguồn lực giúp các đơn vị tái tạo, tăng cường cơ sở vật chất. Các chính sách này giúp cho các đơn vị tái sản xuất tài sản công.
  • Nhà nước thực hiện hiện đại hóa, chuyên nghiệp hóa công tác quản lý tài sản công nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công; bảo đảm nguồn nhân lực và tài chính phục vụ quản lý, sử dụng tài sản công. Đặc biệt, Nhà nước trao quyền tự chủ mạnh hơn cho các đơn vị và thủ trưởng các Đơn vị sự nghiệp công lập (đặc biệt là các đơn vị tự đảm bảo toàn bộ chi thường xuyên trở lên) trong việc đầu tư, mua sắm, quyết định định mức sử dụng tài sản chuyên dùng; Sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết; Xử lý tài sản công gắn với việc công khai, minh bạch, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm. Việc mở rộng trao quyền tự chủ cho Đơn vị sự nghiệp công lập đã góp phần nâng cao số lượng và chất lượng dịch vụ công; Tạo điều kiện cho người dân có thêm cơ hội lựa chọn, tiếp cận các dịch vụ công với chất lượng ngày càng cao, góp phần cải thiện thu nhập của người lao động tại các đơn vị sự nghiệp, tuy nhiên đến nay, hoạt động này vẫn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc.

Trên đây là Cơ Sở Lý Luận Về Quản Lý Tài Sản Công Tại Các Bệnh Viện. Để hoàn thiện bài Luận văn thạc sĩ ngành Ngành Quản Lý Kinh Tế về Luận Văn Quản Lý Tài Sản Công Tại Bệnh Viện được hoàn thiện hơn, thì các bạn tham khảo thêm nội dung dưới đây của bài viết bao gồm Cơ Sở Lý Luận Về Quản Lý Tài Sản Công Tại Các Bệnh Viện. Ngoài ra, các bạn đang gặp khó khăn trong việc lựa chọn đề tài, hoặc chưa làm được đề cương và bài luận văn thạc sĩ của mình. Thì có thể tham khảo bảng giá viết thuê luận văn thạc sĩ và quy trình làm luận văn thạc sĩ tại đây.

===>>> Viết thuê luận văn thạc sĩ Quản Lý Kinh Tế

3 Nguyên tắc quản lý tài sản công

Quản lý tài sản công cần phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc cơ bản sau đây:

Một là, nguyên tắc tập trung, thống nhất: Mọi tài sản công đều phải được Nhà nước giao quyền quản lý, quyền sử dụng và các hình thức trao quyền khác cho cơ quan, tổ chức, đơn vị và đối tượng khác theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan. Do đó, các tài sản công khi quản lý phải tuân thủ các quy định pháp luật của Nhà nước. Việc phân cấp quản lý tài sản công hiện nay tức là Nhà nước giao quyền quản lý tài sản cho các cơ quan, ngành, địa phương theo đúng quy định của pháp luật nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.

Hai là, nguyên tắc theo kế hoạch: quản lý tài sản công phải dựa trên kế hoạch đã được lập ra. Điều đó có nghĩa là việc khai thác tài sản công hiện có, tạo lập tài sản công mới, sử dụng tài sản công,… phải theo kế hoạch đã được hoạch định trước. Quản lý tài sản công theo kế hoạch cho phép khai thác, sử dụng tài sản công phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia, tạo lập cân đối, hài hòa trong khai thác các tài sản công. Tính kế hoạch cho phép các cơ quan được giao quyền quản lý tài sản công được chủ động sử dụng, khai thác có hiệu quả.

Ba là, nguyên tắc minh bạch và trung thực: Tài sản công do Nhà nước đầu tư phải được quản lý, khai thác, duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa, được thống kê, kế toán đầy đủ về hiện vật và giá trị, những tài sản có nguy cơ chịu rủi ro cao do thiên tai, hoả hoạn và nguyên nhân bất khả kháng khác được quản lý rủi ro về tài chính thông qua bảo hiểm hoặc công cụ khác theo quy định của pháp luật.

Tài sản công là tài nguyên phải được kiểm kê, thống kê về hiện vật, ghi nhận thông tin phù hợp với tính chất, đặc điểm của tài sản; được quản lý, bảo vệ, khai thác theo quy hoạch, kế hoạch, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, đúng pháp luật. Tài sản công phục vụ công tác quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh của cơ quan, tổ chức, đơn vị phải được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, đúng mục đích, công năng, đối tượng, tiêu chuẩn, định mức, chế độ theo quy định của pháp luật. Việc khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công phải tuân theo cơ chế thị trường, có hiệu quả, công khai, minh bạch, đúng pháp luật. Việc quản lý, sử dụng tài sản công phải được thực hiện công khai, minh bạch, bảo đảm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng.

Việc quản lý, sử dụng tài sản công được giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán; mọi hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Bốn là; Đảm bảo sử dụng đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức chế độ mà nhà nước quy định. Nhà nước phải thực hiện vai trò kiểm tra, kiểm soát các quá trình hình thành, sử dụng, khai thác và xử lý tài sản công. Nói một cách khác, người được giao trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản công phải thực hiện theo ý chí của nhà nước (người đại diện chủ sở hữu tài sản công). Mặt khác, do những đặc điểm riêng có của tài sản công là tổ chức, cá nhân được giao trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản không phải là người có quyền sở hữu tài sản; tài sản công được phân bổ ở khắp mọi miền đất nước, được giao cho các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý, sử dụng. Do đó, nếu Nhà nước không tổ chức quản lý tài sản công theo một cơ chế, chính sách, chế độ thống nhất phù hợp với mô hình kinh tế mà nhà nước theo đuổi sẽ dẫn đến việc tuỳ tiện, mạnh ai nấy làm trong việc đầu tư xây dựng, mua sắm, sửa chữa, sử dụng, điều chuyển, thanh xử lý tài sản; nhất là sử dụng tài sản không đúng mục đích được giao, sử dụng tài sản công vào việc riêng, sử dụng tài sản lãng phí, kém hiệu quả, làm thất thoát tài sản, giảm nguồn lực tài sản công.

Quản lý và sử dụng tài sản công theo tiêu chuẩn định mức để công tác quản lý thống nhất, đồng thời áp dụng tiêu chuẩn định mức sử dụng từng loại tài sản cho từng đối tượng sử dụng, tránh hiện tượng mạnh ai người đó trang bị tuỳ tiện theo ý muốn của mình, tuỳ thuộc vào khả năng vốn liếng (kinh phí) của đơn vị; tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản còn là thước đo đánh giá mức độ sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài sản công của từng đơn vị; mặt khác, tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản là cơ sở để thực hiện công tác quản lý, thực hiện sự kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước. Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng đối với những tài sản có giá trị lớn được sử dụng phổ biến ở các cơ quan nhà nước, các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, các tổ chức khác. Trên cơ sở tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản đối với các tài sản sử dụng phổ biến, các Bộ, ngành, địa phương quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng đối với những tài sản sử dụng có tính đặc thù.

Năm là; thống nhất về cơ chế, chính sách, chế độ quản lý; đồng thời phải có cơ chế, chính sách, chế độ quản lý, sử dụng đối với những tài sản có tính đặc thù riêng, đối với ngành, địa phương, tổ chức sử dụng tài sản phục vụ cho các hoạt động có tính đặc thù riêng. Thống nhất quản lý trên cơ sở để đảm bảo cơ chế, chính sách, chế độ quản lý tài sản công phù hợp với đặc điểm tài sản công. Nội dung của thống nhất quản lý là Chính phủ thống nhất quản lý tài sản công; Quốc hội, Chính phủ quy định cơ chế, chính sách, chế độ quản lý tài sản áp dụng chung cho mọi tài sản và quy định cơ chế, chính sách, chế độ quản lý cụ thể đối với những tài sản có giá trị lớn mà hầu hết cơ quan nhà nước, các đơn vị lực lượng vũ trang, các đơn vị công, các tổ chức khác được Nhà nước giao trực tiếp sử dụng (có thể gọi là những tài sản chủ yếu và được sử dụng phổ biến). Trên cơ sở cơ chế, chính sách, chế độ quản lý tài sản công do Quốc hội, Chính phủ quy định; các Bộ, ngành, địa phương quy định cơ chế, chính sách, chế độ quản lý đối với những tài sản có tính đặc thù riêng (có thể gọi là những tài sản có tính đặc thù) và những tài sản phục vụ cho các hoạt động đặc thù.

4 Mục tiêu quản lý tài sản công

Thứ nhất: Tạo lập, khai thác hiệu quả tốt nhất nguồn tài sản công của Nhà nước: Cơ quan hành chính phải phát huy chức năng quản lý nhà nước đối với tài sản công để buộc mọi tổ chức, cá nhân được giao quyền sử dụng tài sản công phải bảo tồn, phát triển nguồn tài sản công và sử dụng tài sản công theo quy định của pháp luật, đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả nhằm phục vụ sự phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ được môi trường, môi sinh, hoàn thành nhiệm vụ do Nhà nước giao.

Thứ hai: Đáp ứng yêu cầu công việc của cơ quan hành chính nhà nước gắn với yêu cầu hiện đại hoá và tái trang bị tài sản công đi liền với hiện đại hoá đất nước. Nhà nước thực hiện quản lý tài sản công cũng chính là thực hiện quyền sở hữu tài sản; trong đó đặc biệt là quyền định đoạt đối với tài sản công bao gồm: quyền đầu tư xây dựng, mua sắm, điều chuyển, thanh xử lý tài sản (bao gồm cả bán tài sản)… vì những quyền này được thực hiện không chỉ trong nội bộ các tổ chức, cá nhân được nhà nước giao trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản; mà trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, những quyền này còn được thực hiện trong mối quan hệ mất thiết với thị trường gắn với mục tiêu định hướng của nhà nước trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.

Thứ ba: Các mục tiêu khác trong quản lý tài sản công như; nâng cao hình ảnh của quốc gia mà cụ thể là cơ quan hành chính nhà nước, tạo sự tôn nghiêm và lòng tin đối với công dân và quốc tế, giao lưu học hỏi, tranh thủ sự giúp đỡ về mọi mặt của quốc tế. Muốn vậy công tác quản lý tài sản công phải hiệu quả, khao học, hợp lý.

Ngoài ra, để hỗ trợ thêm cho nhiều bạn học viên đang tìm kiếm tài liệu luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản Lý Kinh Tế, và những tài liệu liên quan đến Cơ Sở Lý Luận Về Quản Lý Tài Sản Công Tại Các Bệnh Viện, Luận văn Panda có chia sẻ nhiều tài liệu luận văn ngành Quản Lý Kinh Tế chọn lọc, nhằm hỗ trợ các bạn học viên đang làm luận văn được tốt hơn. Các bạn có thể tham khảo nhiều bài luận văn tại đây.

===>>> KHO 99 + Luận Văn Về Quản Lý Tài Sản

5 Chỉ tiêu đánh giá về quản lý tài sản công

* Nhóm chỉ tiêu định lượng

Tổng vốn đầu tư cho tài sản công của mỗi đơn vị trong từng thời kỳ và mức độ tăng trưởng vốn đầu tư cho tài sản công của đơn vị.

Tổng vốn đầu tư cho tài sản công của mỗi đơn vị trong từng thời kỳ là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số vốn được đơn vị đó sử dụng đầu tư cho mua sắm, cải tạo, nâng cấp các tài sản công trong một khoảng thời gian nhất định. Quy mô vốn đầu tư càng lớn chứng tỏ đơn vị càng chú trọng tới đầu tư tài sản công nhằm nâng cao năng lực hoạt động cho mình.

Mức độ tăng trưởng vốn đầu tư cho tài sản công là chỉ tiêu tương đối phản ánh tốc độ biến động của vốn đầu tư cho tài sản công qua các thời kỳ nhất định.

Mức độ tăng trưởng dương cho thấy tài sản công của đơn vị ngày càng được chú trọng đầu tư mở rộng và phát triển.

Đối với tài sản công của các bệnh viện công lập đều là những tài sản tiên tiến, hàm lượng công nghệ cao nên cần lượng vốn đầu tư rất lớn. Chính vì vậy, quy mô vốn đầu tư cho tài sản công của các bệnh viện ở mức cao.

Cơ cấu vốn đầu tư cho tài sản công của mỗi đơn vị trong từng thời kỳ. Tại các đơn vị sự nghiệp thì vốn đầu tư cho tài sản công được hình thành chủ yếu từ hai nguồn: nguồn Ngân sách nhà nước cấp trực tiếp và nguồn kinh phí của đơn vị, ngoài ra còn có có thể hình thành từ nguồn liên doanh, liên kết, hợp tác đầu tư công tư.

Cơ cấu vốn đầu tư cho tài sản công của mỗi đơn vị trong từng thời kỳ là chỉ tiêu tương đối phản ánh thành phần và tỷ trọng của mỗi nguồn vốn huy động đầu tư cho tài sản công của đơn vị trong một giai đoạn cụ thể.

Nguồn vốn đầu tư chủ yếu tà Ngân sách nhà nước cho thấy các đơn vị chưa mở rộng khả năng xã hội hóa nguồn đầu tư cho tài sản công, khả năng mở rộng quy mô tài sản công còn yếu kém.

Tuy nhiên, các bệnh viện cung cấp dịch vụ công cộng là khám chữa bệnh, giá khám chữa bệnh được Nhà nước quản lý chặt chẽ nhằm đảm bảo tính công bằng cho mọi người dân khi tiếp cận dịch vụ y tế nên nguồn vốn Ngân sách nhà nước đóng vai trò quan trọng hàng đầu cho đầu tư tài sản công của các bệnh viện.

  • Số lượng tài sản công được đầu tư mới hay nâng cấp trong từng thời kỳ. Đây là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh số lượng các tài sản mới được mua sắm, hình thành thêm trong từng giai đoạn hoặc được nâng cấp, cải tạo…. Tuy nhiên, số lượng tài sản công còn phụ thuộc vào giá trị của các tài sản công. Trong khi, hầu hết giá trị của tài sản công tại các bệnh viện rất lớn nên số lượng tài sản công được đầu tư mới hay nâng cấp thường không nhiều.
  • Mức độ hao mòn tài sản công của đơn vị tại một thời điểm. Đây là chỉ tiêu tương đối phản ánh tài sản công của đơn vị còn mới hay đã cũ, số vốn đã thu hồi bao nhiêu % so với số vốn đầu tư bỏ ra ban đầu.

Tỷ lệ hao mòn càng cao càng chứng tỏ tài sản công của các đơn vị đã cũ, ít được quan tâm đầu tư đổi mới nên năng lực hoạt động cũng vì thế sụt giảm theo.

Máy móc, trang thiết bị của các bệnh viện thường hoạt động với cường độ cao, công suất lớn, thậm chí vượt quá công suất lại có hàm lượng kỹ thuật cao nên chịu tác động lớn của hao mòn vô hình. Chính vì thế, hầu hết các tài sản này được trích khấu hao nhanh.

  • Số lượng tài sản công bị hư hỏng, không thể khắc phục: là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh số lượng tài sản công không còn sử dụng được do hư hỏng, hết thời gian sử dụng. Các tài sản này cần nhanh chóng sửa chữa, khắc phục, nếu không thể khắc phục được cần nhanh chóng thanh lý, nhượng bán để có nguồn tài chính đổi mới tài sản công.
  • Công suất khai thác, sử dụng tài sản công: là chỉ tiêu tương đối phản ánh mức độ khai thác, đưa tài sản công vào sử dụng. Nếu công suất đạt mức càng gần 100% tho thấy các tài sản công được khai thác tối đa cho hoạt động của các tổ chức hành chính sự nghiệp. Tài sản công không bị lãng phí, hiệu quả hoạt động được nâng cao.

Nếu công suất khai thác ở mức thấp, chứng tỏ tài sản công ít được đưa vào vận hành, sử dụng gây ra hiện tượng lãng phí.

Nếu công suất khai thác quá cao, trên 100% thì cho thấy tài sản công đang hoạt động trên công suất, dẫn tới việc tài sản nhanh chóng bị hư hỏng, quy mô tài sản công không đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của đơn vị.

Mức độ hiệu quả kinh tế, xã hội khi vận hành, sử dụng tài sản công như nguồn thu, khả năng cung ứng dịch vụ công,… phụ thuộc vào từng loại tài sản.

Đối với tài sản công của các bệnh viện, mức độ hiệu quả kinh tế, xã hội thường được đo lường bởi số thu viện phí hay số lượt người khám chữa bệnh,…

* Nhóm tiêu chí định tính

Nhóm chỉ tiêu định tính có thể sử dụng để đánh giá quản lý tài sản công như: Mức độ chấp hành quy định pháp lý của Nhà nước và quy định quản lý của đơn vị. Việc đầu tư, mua sắm, vận hành, sử dụng, thanh lý tài sản công của các đơn vị sự nghiệp công lập phải tuân thủ những quy định chặt chẽ của pháp luật. Khi đánh giá quản lý tài sản công của bệnh viện, có thể đánh giá mức độ chấp hành quy định pháp lý của Nhà nước trong các đơn vị hành chính sự nghiệp xem có thực hiện đúng quy trình hay không? Có đảm bảo đúng yêu cầu quản lý nhà nước về tài sản công hay không?….thức của các cán bộ, nhân viên trong quản lý tài sản công: Ý thức cán bộ, nhân viên trong quản lý tài sản công được thể hiện thông qua tinh thành trách nhiệm trong việc gìn giữ, bảo quản tài sản công để tối ưu hóa hiệu quả khai thác và sử dụng tài sản công.

DOWNLOAD FILE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chat Zalo
Chat Facebook
0932091562