Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng

Rate this post

Tải miễn phí mẫu Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng cho các bạn đang làm luận văn thạc sĩ ngành Tài chính Ngân Hàng, còn rất nhiều nội dung tham khảo về Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng, các bạn có thể tham khảo tại các bài viết tiếp theo của Luận văn Panda.

Lưu ý: Trong quá trình làm đề tài luận văn thạc sĩ Tài Chính Ngân Hàng, nếu các bạn không có thời gian làm bài, hay những khó khăn khác có thể liên hệ với Dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ của bên mình để được hỗ trợ làm bài qua:

SĐT/ZALO: 0932.091.562

Mục lục ẩn

1.1 Khái niệm về tín dụng

Tín dụng là một phạm trù kinh tế gắn liền với nền kinh tế hàng hóa, sự ra đời và vận động của tín dụng được bắt nguồn từ đặc điểm của sự chu chuyển vốn tiền tệ và sự cần thiết sinh lợi của vốn tạm thời nhàn rỗi cũng như nhu cầu về vốn nhưng chưa tích lũy được, trong cùng một thời điểm đã hình thành một quan hệ cung cầu về tiền tệ giữa một bên là người thiếu hụt nguồn vốn ( người đi vay ) và một bên là người dư thừa nguồn vốn ( người cho vay).

Tín dụng theo nghĩa rộng, là sự tín nhiệm, sự tin cậy, lòng tin… Trong phạm vi kinh tế, tiền tệ, tín dụng được hiểu là số tiền cho vay, cho mượn. Tín dụng là quan hệ vay mượn theo nguyên tắc hoàn trả. Người vay tiền trong quan hệ tín dụng có nghĩa vụ hoàn trả trực tiếp và có thời hạn. (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng vô cùng quan trọng, nó là một quan hệ tín dụng chủ yếu, cung cấp phần lớn nhu cầu tín dụng cho các doanh nghiệp, các thể nhân khác trong nền kinh tế.

Thực hiện chức năng trung gian tín dụng, các ngân hàng thương mại thực hiện nhiệm vụ cụ thể như sau:

  • Nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn của các đơn vị kinh tế, các tổ chức và các nhân bằng đồng tiền trong nước và bằng ngoại tệ.
  • Nhận tiền gửi tiết kiệm của các tổ chức và cá nhân.
  • Phát hành kỳ phiếu và trái phiếu ngân hàng để huy động vốn trong xã hội.
  • Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn đối với các đơn vị và cá nhân.
  • Chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá đối với các đơn vị cá nhân.
  • Cho vay tiêu dùng, cho vay trả góp và các loại hình tín dụng khác đối với tổ chức và cá nhân.

Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời vốn và là quan hệ bình đẳng cả hai bên cùng có lợi.

Như vậy, Tín dụng ngân hàng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác[14,trang 282].

Xem Thêm chi tiết về quy trình làm luận văn và bảng giá viết thuê luận văn thạc sĩ tại đây:

===> Bảng Giá viết luận văn thạc sĩ

1.2.Vai trò của tín dụng ngân hàng (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

1.2.1. Đối với nền kinh tế:

Thứ nhất,Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy hoạt động phát triển kinh tế.

Trước hết, nhờ thực hiện chức năng trung gian tín dụng mà hệ thống ngân hàng thương mại huy động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của xã hội, biến nguồn tiền nhàn rỗi từ chỗ là phương tiện tích lũy trở thành nguồn vốn lớn của nền kinh tế. Thông qua tín dụng ngân hàng mà ngân hàng thương mại cung ứng khối lượng vốn tín dụng rất lớn cho nền kinh tế. Đây là nguồn vốn rất quan trọng vì nó không chỉ lớn về về số tiền tuyệt đối mà vì tính chất “ luân chuyển” không ngừng của nó.

Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy phát triển tất cả các lĩnh vực trong xã hội. Từ trong quá trình sản xuất, chế biến hàng hoá đến lưu thông hàng hoá ra thị trường đều cần vốn. Vốn để dự trữ nguyên, nhiên vật liệu, các chi phí để sản xuất.Vốn để trang bị máy móc, thiết bị khoa học kĩ thuật để đổi mới công nghệ nhằm năng cao chất lượng sản phẩm và tạo lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm… Rõ ràng các doanh nghiệp sẽ không thể thực hiện được các công việc trên nếu thiếu đi sự hỗ trợ của các ngân hàng thông qua hoạt động tín dụng.

Trong lĩnh vực lưu thông, để đảm bảo đưa được hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng, các doanh nghiệp cần có vốn để dự trữ khối lượng hàng hóa cần thiết, trang trải các chi phí vận chuyển, bảo quản, thuế quan … hơn nữa, để mở rộng sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần phải dự trữ khối lượng hàng hóa lớn về chủng loại phong phú, nhưng thông thường doanh nghiệp không có nhiều vốn lưu động. Vì vậy, để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp cần đến sự hỗ trợ của tín dụng ngân hàng. (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

Các doanh nghiệp phi sản suất như doanh nghiệp cung cấp dịch vụ khách sạn, du lịch, y tế, giáo dục … khi bước vào hoạt động đòi hỏi vốn rất lớn nên hầu hết các doanh nghiệp đều cần đến tín dụng ngân hàng và xem nó như là một trong những nguồn vốn có thể huy động cho mục đích kinh doanh của doanh nghiệp.

Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua việc cung cấp vốn cho các doanh nghiệp.

Thứ hai, là công cụ điều tiết kinh tế xã hội của nhà nước.

Thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng, Nhà nước có thể kiểm soát các hoạt động kinh tế để đưa ra các biện pháp chính sách quản lý kinh tế và pháp lý phù hợp. Nhà nước có thể điều chỉnh cơ cấu kinh tế và hoạt động của các thành phần kinh tế thông qua các chính sách ưu đãi về lãi suất và các điều kiện cho vay các doanh nghiệp đầu tư sản xuất theo mục tiêu định hướng kinh tế của Nhà nước.

Tín dụng ngân hàng giúp thúc đẩy sự luân chuyển vốn cho nền kinh tế, là trung gian điều hòa vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu hụt nguồn vốn.

Thông qua việc đầu tư vốn tín dụng vào những ngành nghề, khu vực kinh tế trọng điểm sẽ thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề, khu vực kinh tế đó, hình thành nên cơ cấu kinh tế hiệu quả. Ngày nay, sự phát triển của mỗi quốc gia luôn luôn gắn với mối quan hệ kinh tế với thị trường thế giới,chính vì vậy tín dụng trở thành một trong những phương tiện kết nối nền kinh tế các nước với nhau bằng các hoạt động tín dụng quốc tế.

1.2.2. Đối với khách hàng (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

Thứ nhất, Tín dụng ngân hàng đáp ứng kịp thời nhu cầu về số lượng và chất lượng vốn cho khách hàng.Với các ưu điểm như không bị hạn chế về thời gian vay, về mục đích sử dụng, dễ tiếp cận và có khả năng đáp ứng được nhu cầu vốn lớn nên tín dụng ngân hàng thỏa mãn được nhu cầu đa dạng của khách hàng. Qua đó tín dụng ngân hàng giúp các doanh nghiệp duy trì và phát triển, tận dụng được những cơ hội kinh doanh, giúp khách hàng thoả mãn được mục đích để nâng cao được chất lượng cuộc sống.

Thứ hai, Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. So với việc sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu thì tín dụng ngân hàng ràng buộc trách nhiệm khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi trong thời gian nhất định theo thỏa thuận. Do đó buộc khách hàng phải nỗ lực và tận dụng hết khả năng của mình để sử dụng vốn vay hiệu quả nhằm đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.

Thứ ba, khi ngân hàng cho vay vốn hàm ý khách hàng đã được chọn lọc và có chất lượng tốt. Điều này làm cho thương hiệu của khách hàng trên thương trường được tăng cường, tăng được uy tín và giúp khách hàng phát triển kinh doanh.

1.2.3. Đối với ngân hàng: (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

Thứ nhất, hoạt động tín dụng đem lại lợi nhuận quan trọng nhất cho ngân hàng. Tín dụng là hoạt động truyền thống mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng . Mặc dù tỷ trọng hoạt động tín dụng đang có xu hướng giảm trên thị trường tài chính nhưng tín dụng ngân hàng vẫn là nghiệp vụ mang lại lợi nhuận quan trọng nhất đối với mỗi ngân hàng.

Thứ hai, thông qua hoạt động tín dụng thì ngân hàng mở rộng được các sản phẩm dịch vụ khác như thanh toán, thu hút tiền gửi, kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ nhắc nợ tiền vay, bán bảo an tín dụng, … Từ đó đa dạng hóa được hoạt động kinh doanh, tăng lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng.

Xem nhiều lời mở đầu tại đây:

===> Lời mở đầu trong luận văn thạc sĩ

1.3. Các loại hình tín dụng ngân hàng (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

Ngân hàng cung cấp rất nhiều loại tín dụng, cho nhiều đối tượng khách hàng với những mục đích sử dụng khác nhau.Tùy theo mục đích quản lý khác nhau mà ta có thể phân loại tín dụng ngân hàng theo một số tiêu chí sau:

1.3.1. Phân loại theo thời hạn cho vay:

Tín dụng ngắn hạn: đây là loại tín dụng có thời hạn tối đa đến 12 tháng. Loại hình này được khách hàng vay vốn nhằm đắp sự thiếu hụt vốn lưu động và nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn.

Tín dụng trung hạn: Có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng. Loại tín dụng này được sử dụng chủ yếu để mua sắm tài sản cố định, cải tiến, đổi mới kỹ thuật, xây dựng những công trình nhỏ thu hồi vốn nhanh.

Tín dụng dài hạn: là các khoản vay thời hạn trên 60 tháng. Loại tín dụng này thông thường dùng để tài trợ cho các dự án đầu tư, công trình xây dựng cơ bản quy mô lớn, thời gian thu hồi vốn lâu hơn.

Việc xác định thời hạn trên cũng chỉ mang tính chất tương đối vì nhiều khoản vay không xác định trước được chính xác thời hạn.

Tỷ trọng tín dụng ngắn hạn tại các ngân hàng thương mại thường cao hơn tín dụng trung và dài hạn do ngân hàng thương mại chủ yếu tài trợ cho tài sản lưu động của khách hàng. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ như kỳ hạn và tính ốn định của ngồn vốn, khả năng quản lý thanh khoản của ngân hàng, khả năng dự báo và dự phòng rủi ro trong trung và dài hạn…

1.3.2. Phân loại tín dụng theo quy trình nghiệp vụ:

Tín dụng bao gồm cho vay, chiết khấu, cho thuê, bảo lãnh… (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

Cho vay: là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng vốn từ người sở hữu là ngân hàng sang người sử dụng ( người vay – khách hàng) với cam kết của khách hàng là sẽ hoàn trả cả gốc và lãi trong một khoản thời gian xác định.

  • Chiết khấu: là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của chứng từ có giá trừ đi chiết khấu của ngân hàng để sở hữu một chứng từ có giá chưa đến hạn.
  • Bảo lãnh ngân hàng: là cam kết của ngân hàng bảo lãnh được lập trên một văn bản để cam kết với bên thụ hưởng bảo lãnh. Nếu khi đến hạn bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiên không đúng các cam kết trong hợp đồng dân sự, thì với tư cách là ngân hàng bảo lãnh sẽ đứng ra thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh.

Cho thuê tài chính: là hoạt động tín dụng trung, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là ngân hàng và khách hàng thuê. Khi kết thúc hợp đồng thuê, khách hàng có thể mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng.

Bao thanh toán: là nghiệp vụ tín dụng gián tiếp của ngân hàng thương mại, theo đó ngân hàng đồng ý cung cấp tín dụng cho nhà cung cấp ( người bán) nếu nhà cung cấp xuất trình bộ chứng từ thanh toán, trên cơ sở hợp đồng thương mại đã k kết với bên mua, phù hợp với các điều khoản trong hợp đồng bao thanh toán. Nói cách khác, bao thanh toán là việc ngân hàng đứng ra trả tiền ngay cho người bán, theo bộ chứng từ mà người bán đã xuất trình. Sau đó ngân hàng này sẽ đòi tiền từ người mua theo hợp đồng bao thanh toán đã ký kết. Chênh lệch giữa số tiền trên chứng từ hóa đơn và số tiền ứng trước là khoản thu nhập cho ngân hàng bao thanh toán.

1.3.3. Phân loại theo hình thức đảm bảo: (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

Tín dụng không bảo đảm: Là tín dụng được cấp phát không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba mà hoàn toàn dựa trên uy tín của khách hàng đối với ngân hàng. Khi cấp tín dụng theo hình thức này thì ngân hàng cân nhắc kỹ về uy tín của đối tượng cũng như khả năng tài chính của họ, vì đối với hình thức này khi có rủi ro xảy ra thì ngân hàng có thể mất vốn.

Tín dụng có bảo đảm: đây là hình thức cho vay rất phổ biến và đa dạng. Là loại tín dụng được cấp với điều kiện có tài sản thế chấp, cầm có như bất động sản, động sản…

1.3.4. Phân loại tín dụng theo rủi ro:

Nợ quá hạn: Nợ quá hạn là nợ đến hạn không/chưa trả được. Nợ quá hạn có thể được phân loại :

  • Nợ quá hạn có khả năng thu hồi : Các khoản nợ đã quá hạn quá hạn với thời gian ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn…

+ Nợ quá hạn khó đòi: Nợ quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất kém tài sản thế chấp nhở hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ỳ…

Nợ đủ tiêu chuẩn: Là các khoản nợ có khả năng thu hồi cao. Khách hàng có tình hình tài chính tốt, dự án vay có hiệu quả, không phát sinh nợ quá hạn.

Nợ có vấn đề: Nợ có vấn đề là các khoản nợ có dấu hiệu như khách hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch chậm, khách hàng gặp thiên tai, khách hàng nộp báo cáo tài chính … Nợ có vấn đề có thể được chia theo nhiều cấp độ khác nhau phản ánh mức độ rủi ro. (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

1.4. Nguyên tắc và điều kiện cấp tín dụng

Nguyên tắc cho vay thứ nhất: Nguyên tắc quản lý mục đích tiền vay Theo nguyên tắc này mặc dù người đi vay phải thế chấp tài sản để được vay tiền nhưng ngân hàng có quyền kiểm tra việc sử dụng vốn vay đối với người vay. Người vay phải xây dựng dự án, phương án xin vay vốn và phải có trách nhiệm thự hiện đúng hợp đồng đã kí với ngân hàng. Mục đích của việc đề ra nguyên tắc này là đảm bảo tính hoàn trả của đồng vốn đồng thời quản lý vốn đầu tư theo đúng định hướng và cơ cấu đầu tư. Quản lý vốn đầu tư đúng định hướng từ đó đảm bảo tính cân đối trong nền kinh tế.

Nguyên tắc cho vay thứ hai: Nguyên tắc hoàn trả

Vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi cho ngân hàng sau thời gian vay vốn. Thời gian vay vốn là khoảng thời gian kể từ khi người vay lĩnh tiền vay lần đầu tiên đến khi trả hết nợ gốc và tiền lãi.

1.5. Điều kiện cấp tín dụng: (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

Khách hàng vay vốn phải có đủ các điều kiện sau:

  • Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.

Đối với khách hàng vay vốn là tổ chức, điều kiện này được thể hiện qua quyết định thành lập, giấy phép, hoặc giấy đăng ký kinh doanh các quyết định bổ nhiệm, chuẩn y các chức năng lãnh đạo. Có trụ sở và văn phòng kinh doanh, có con dấu, có tài khoản riêng, đang hoạt động bình thường, không bị phong tỏa tài sản, không bị liên đới trách nhiệm trong các quan hệ kinh tế, dân sự…

Đối với khách hàng vay vốn là thể nhân, điều kiện này được chứng minh bằng hộ khẩu thường trú, chứng minh nhân dân.Thể nhân không bị tiền án, tiền sự, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trạng thái thần kinh bình thường…

Người vay vốn có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết

Đây là điều kiện rất quan trọng đối với bất kỳ một khách hàng nào, kể cả pháp nhân và thể nhân. Khả năng tài chính của khách hàng phải được chứng minh qua nguồn thu nhập, qua năng lực tài chính hiện tại và tương lai.

  • Người vay vốn có mục đích sử dụng vốn hợp pháp (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

Mục đích sử dụng vốn hợp pháp là điều kiện bắt buộc và có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng trả nợ của khách hàng. Sử dụng vốn hợp pháp thể hiện sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động kinh doanh, đồng thời khẳng định tính nguyên tắc trong tài trợ tín dụng của các tổ chức tín dụng.

Có phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư khả thi hiệu quả. Hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư là yếu tố quan trọng để ra quyết định tài trợ. Về nguyên tắc không một ngân hàng nào tài trợ

cho phương án sản xuất kinh doanh không có hiệu quả. Tuy nhiên, việc xác định chính xác hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư thật là khó, chỉ mang tính tương đối, nhưng phải có căn cứ, và phải được cân nhắc kĩ lưỡng.

Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của chính phủ và Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Đảm bảo tiền vay không phải là điều bắt buộc đối với mỗi mọi khách hàng, tùy từng điều kiện cụ thể của từng khách hàng, ngân hàng có quyền yêu cầu có tài sản đảm báo hoặc cho vay bằng tín chấp.

2.1.Khái niệm và bản chất của rủi ro tín dụng

Rủi ro thường hàm chứa trong nó những khả năng gây tổn thất và có thể xảy ra đối với các tất cả các lĩnh vực trong đời sống kinh tế xã hội, đặc biệt là tài chính. Rủi ro có thể xuất hiện bất ngờ và gây tổn thất lớn đến lợi nhuận cũng như sự an toàn của ngân hàng. Vì vậy, việc dự đoán, phòng ngừa rủi ro và hạn chế tổn thất là một trong những nội dung mà ngân hàng cần đặc biệt quan tâm. Rủi ro tín dụng đối với một khoản tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất khi khách hàng không hoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ theo hợp đồng tín dụng đã k kết với ngân hàng. Rủi ro tín dụng là một trong những loại rủi ro lâu đời nhất và lớn nhất trong thị trường tài chính, thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng vì các khoản tín dụng thường chiếm quả nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ 70- 90% thu nhập cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng cũng là loại rủi ro phức tạp nhất, quản lý và phòng ngừa khó khăn nhất, đòi hỏi ngân hàng phải có những giải pháp đồng bộ, hữu hiệu để ngăn ngừa, hạn chế và giảm thiểu tối đa những thiệt hại có thể xảy ra.

Bản chất của rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất có quy mô lớn nhất của ngân hàng thương mại- hoạt động tín dụng. Khi thực hiện một số hoạt động tài trợ cụ thể, ngân hàng phân tích thông tin và để xác định độ tin cậy tín dụng của người vay và chỉ quyết định cho vay khi thấy rủi ro tín dụng không quá cao và có thể chấp nhận được.Tuy nhiên không thể dự đoán được chính xác các vấn đề sẽ xảy ra. Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân, công thêm vào đó nhiều cán bộ ngân hàng không có khả năng phân tích tín dụng thỏa đáng. Do vậy, rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh , có thể đề phòng hạn chế chứ không thể loại trừ.

2.2.Phân loại rủi ro tín dụng (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

2.2.1. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro.

Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ:

Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến đánh giá và phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.

Rủi ro đảm bảo: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.

Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.

Rủi ro danh mục: là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.

Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn vay của khách hàng vay.

Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều khách hàng hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc trong cùng một v ng địa lý nhất định.

2.2.2. Căn cứ theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

Rủi ro khách quan: là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, người vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách.

Rủi ro chủ quan: do nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay và người cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác.

2.2.3. Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng

Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn: Xảy ra khi khách hàng không thể trả nợ đúng thời hạn đã thỏa thuận với ngân hàng hay nói cách khác là khách hàng đã trì hoãn trả nợ. Điều này ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng, gây cản trở khó khăn cho việc chi trả lãi tiền gửi, tăng chi phí cho ngân hàng ( chi phí cơ hội, chi phí xử lý nợ quá hạn và nợ khó đòi, chi phí giám sát và chi phí pháp lý).

Rủi ro do không có khả năng trả nợ: Là rủi ro xảy ra khi ngân hàng không thể đòi lại được tiền của khách hàng do khách hàng đi vay đã mất khả năng chi trả. Trong trường hợp này thì ngân hàng chỉ còn trông chờ vào giá trị thanh lý tài sản của khách hàng để đỡ một phần nợ gốc. (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

Rủi ro tín dụng không giới hạn ở hoạt động cho vay: Bao gồm các hoạt động khác mang tính chất tín dụng của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ …

XEM THÊM NHIỀU CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG LUẬN VĂN THẠC SĨ TẠI ĐÂY:

===>>> CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG LUẬN VĂN THẠC SĨ

2.3. Đặc điểm của rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng mang tính bị động:

Đặc điểm này xuất phát từ nguyên nhân là trong quan hệ tín dụng, ngân hàng có sự chuyển giao về vốn giữa ngân hàng và khách hàng, có sự tách rời về quyền sử dụng và quyền sở hữu vốn sau một thời gian nhất định. Do vậy nếu khách hàng sử dụng vốn không hiệu quả, sai mục đích vay… thì có thể dẫn đến rủi ro cho khách hàng và chính là rủi ro cho ngân hàng.

Rủi ro tín dụng luôn gắn liền với hoạt động của ngân hàng thương mại. Do thông tin bất cân xứng giữa người cho vay và người đi vay nên luôn có một mức độ rủi ro khi nghiệp vụ tín dụng phát sinh. Hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng chịu nhiều tác động do các yếu tố chủ quan cũng như khách quan. Vì vậy khi khách hàng sử dụng vốn vay thì luôn tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng trong việc thu hồi vốn và lãi.

Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của rủi ro tín dụng do đặc trưng ngân hàng là ngân hàng trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ. Do đó khi phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng phải chú đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ nguyên nhân bản chất và hậu quả do rủi ro tín dụng đem lại để có biện pháp phòng ngừa phù hợp.

Rủi ro tín dụng có tính tất yếu: Rủi ro tín dụng luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại. Chấp nhận rủi ro là tất yếu trong hoạt động ngân hàng. Các ngân hàng cần phải đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro – lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro chấp nhận. Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh chịu là hợp lý và kiểm soát được, nằm trong phạm vi khả năng các nguồn lực tài chính và năng lực tín dụng của ngân hàng (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

2.4. Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng.

2.4.1. Phân loại nợ.

Theo quy định tại Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của thống đốc NHNN về nợ và nợ quá hạn như sau:

“ Nợ “ bao gồm : Các khoản cho vay, ứng trước, thấu chi và cho thuê tài chính; các khoản chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, các khoản bao gồm thanh toán; các hình thức tín dụng khác. Tổ chức tín dụng thực hiện phân loại nợ như sau:

Nợ nhóm 1 ( Nợ đủ tiêu chuẩn ) bao gồm :

  • Các khoản nợ trong hạn và TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng hạn.
  • Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại.
  • Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
  • Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu;
  • Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
  • Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu;
  • Các khoản nợ được miễn lãi hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
  • Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày. (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)
  • Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
  • Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.
  • Các khoản nợ qua hạn trên 360 ngày;
  • Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
  • Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai qua hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
  • Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn;

Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý.

2.4.2. Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng.

  1. a) Tỷ lệ nợ quá hạn

Trong đó, tổng dư nợ gồm các khoản cho vay, ứng trước thấu chi và cho thuê tài chính; các khoản chiết khấu, tái chiết khấu chứng từ có giá; các khoản bao thanh toán; các hình thức tín dụng khác.

Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn. Ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn cao thì rủi ro càng lớn, vì những khoản nợ không thu hồi được sẽ ảnh hưởng đến quá trình khai thác và sử dụng vốn của ngân hàng, phá vỡ kế hoạch kinh doanh và đặc biệt nó làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của tổ chức tín dụng.

Tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ làm tăng chi phí của ngân hàng.Vói một khoản tín dụng gặp rủi ro Ngân hàng phải thêm một khoản chi phí giám sát khoản vay, chi phí xử lý tài sản đảm bảo, chi phí pháp lý … do đó làm tăng chi phí thực tế của ngân hàng. (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

Nợ quá hạn xuất hiện làm chậm quá trình tuần hoàn chu chuyển vốn của ngân hàng, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, giảm lợi nhuận, giảm hiệu quả kinh doanh, giảm uy tín của ngân hàng.

b) Tỷ lệ nợ xấu :

Dự nợ xấu

Tỷ lệ nợ xấu

Tổng dư nợ

“ Nợ xấu ” là các khoản nợ thuộc nhóm 3,4 và 5 theo quy định trên. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng. Ngưỡng tỷ lệ nợ xấu được coi là an toàn trong hoạt động tín dụng là dưới 3% tổng dư nợ. Tỷ lệ nợ xấu càng cao thì chất lượng tín dụng càng thấp, độ rủi ro càng cao. Nếu nợ xấu không được giả quyết kịp thời thì đến một thời điểm nào đó khả năng trích lập dự phòng rủi ro sẽ không còn đủ để b đắp tổn thất đó.

  1. Chỉ tiêu trích lập dự phòng:

Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Dự phòng rủi ro được tinh theo dư nợ gốc và được hạch toán vào chi phí của tổ chức tín dụng.

“ Dự phòng cụ thể” là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ thể các khoản nợ quy định tại điều 6 hoặc điều 7 quyết định 493/2005/QĐ – NN ngày 22/04/2005 để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra.

“ Dự phòng chung” là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể và trong trường hợp khó khăn về tài chính của các tổ chức tín dụng khi chất lượng các khoản nợ suy giảm.

Số tiền trích lập dự phòng bản chất làm tăng chi ph  của ngân hàng, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của ngân hàng. Tuy nhiên trong hoạt động của ngân hàng thương mại thì việc trích lập dự phòng rủi ro là cần thiết nhằm đảm bảo an toàn hê thống và được thực hiện theo qu theo quy định chi tiết tại mục 1 và mực 2 chương 2 quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro.

Nếu tỷ lệ trích lập dự phòng chung trên tổng dư nợ vay tại thời điểm trích lập và/ hoặc tổng số tiền trích lập dự phòng rủi ro cụ thể càng lớn thì cho thấy dư nợ vay của ngân hàng có mức độ rủi ro cao và ngược lại.

2.5.Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

2.5.1. Các nguyên nhân từ môi trường kinh doanh

a, Môi trường vĩ mô:

  • Môi trường chính trị, pháp luật: Sự thay đổi thể chế, sự bất ổn chính trị… có thể đe dọa đến khả năng tồn tại và phát triển của bất cứ ngành nào. Ngoài luật pháp trong nước, các doanh nghiệp còn phải tuân theo luật pháp của khu vực. Các công ty hoạt động tại nước ngoài cần phải am hiểu pháp luật của quốc gia sở tại, điều này là rất khó khăn.
  • Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế từng thời kỳ không chỉ có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp mà còn có nghĩa với cả các ngân hàng cho vay. Các yếu tố thuộc môi trường kinh tế tác động đến khả năng trả nợ của khách hàng gồm: tính chu kỳ của nền kinh tế; các biến số kinh tế vĩ mô như lãi suất, lạm phát, tỷ giá… các chính sách của chính phủ như tiền lương, các hướng ưu tiên đầu tư, miễn giảm thuế,…
  • Môi trường văn hóa- xã hội: Những giá trị văn hóa và xã hội đặc trưng mỗi quốc gia, mỗi vùng miền ảnh hưởng tới đặc điểm của người tiêu dùng và quyết định đến đầu ra của các doanh nghiệp. Đặc điểm giá trị văn hóa xã hội của các nhóm khách hàng khác nhau như tuổi thọ trung bình, tình trạng sức khỏe, chế độ dinh dưỡng, thu nhập trung bình, tâm lý… tác động đến sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp, qua đó tác động đến sự thành công hay thất bại của khách hàng vay vốn.

Môi trường công nghệ: Công nghệ là yếu tố tác động trực tiếp và to lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Ứng dụng và nắm bắt được xu hướng phát triển của công nghệ là yếu tố then chốt để tồn tại và phát triển.

b) Môi trường vi mô: (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

Môi trường vi mô tác động đến khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn khi gặp rủi ro như sau:

  • Từ phía nhà cung cấp: Như không giao hàng, giao hàng chậm, giao hàng kém chất lượng, không thực hiện bảo hành, bảo trì như thỏa thuận ,không cung cấp hàng phụ tùng thay thế.
  • Từ phía khách hàng mua: Hủy đơn đặt hàng trong khi hàng hóa đã được sản xuất, nhận hàng nhưng không thanh toán, thanh toán chậm…
  • Từ phía tài sản đảm bảo:
  • Tài sản đảm bảo khó định giá do ngân hàng thiếu thông tin, kỹ thuật thẩm định.
  • Tài sản đảm bảo có tính khả mại thấp, đặc biệt với tài sản chuyên dụng, đặc chủng.
  • Giá trị TSĐB biến động theo chiều hướng bất lợi hoặc thay đổi hiện trạng.
  • Phát sinh tranh chấp về pháp lý, dẫn tới khó khăn trong việc xử lý tài sản.

2.5.2. Các nguyên nhân thuộc về khách hàng. (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

– Sau khi vay vốn khách hàng tự thay đổi mục đích sử dụng vốn, sử dụng vào các hoạt động rủi ro cao dẫn đến thua lỗ không trả được nợ cho ngân hàng.Ngoài ra trong một số trường hợp, khi đã có vốn trong tay, khiến đạo đức khách hàng thay đổi, không còn thiện chí trả nợ cho ngân hàng.

  • Năng lực quản lý kinh doanh yếu kém, khả năng tổ chức điều hành sản xuất kinh doanh không bắt kịp thay đổi của thị trường.
  • Doanh nghiệp dùng nợ vay ngắn hạn để đầu tư vào tài sản dài hạn trong khi không có chức năng chuyển hóa kỳ hạn.
  • Sức ì lớn trong sản xuất kinh doanh , thiếu vắng đi sự linh hoạt cần thiết, không cải tiến quy trình công nghệ, không đầu tư vào máy móc thiết bị hiện đại, không cải tiến mẫu mã và nâng cao chất lượng sản phẩm…Các nguyên nhân này dẫn tới hàng hóa sản xuất ra thiếu sự cạnh tranh, bị ứ đọng trong kho không tiêu thụ được, không tạo đủ doanh thu để hoàn tiền vay cho ngân hàng. Khách hàng vay chủ ý lừa đảo, chiếm dụng vốn của ngân hàng, làm giả hồ sơ giấy tờ, nhất là giấy tờ TSĐB và tư cách pháp nhân.
  • Khách hàng không thiện chí giao tài sản, đe dọa cán bộ tín dụng.

2.5.3.Nguyên nhân từ các đảm bảo tài sản

Do sự biến động giá trị đảm bảo tài sản theo chiều hướng bất lợi ( phụ thuộc vào đặc tính của tài sản và thị trường giao dịch của tài sản đó). Có ba yếu tố đỗi với các tài sản đảm bảo là:

  • Dễ được định giá
  • Dễ cho ngân hàng quyền đươc sở hữu hợp pháp
  • Dễ tiêu thụ hay thuận tiện

2.5.4. Các nguyên nhân thuộc về ngân hàng. (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

  1. Do sự yếu kém trong công tác điều hành quản trị:

Yếu tố con người đóng vai trò quyết định trong kinh doanh khi môi trường kinh doanh ngày càng được quốc tế hóa và cạnh tranh quyết liệt như ở nước ta hiện nay. Nhiều nhà quản trị chưa đủ cá điều kiện để điều hành ngân hàng, chưa được đào tạo một cách cơ bản, không nắm bắt nhanh kịp thời các thong tin thay đổi, thiếu bản lĩnh trong điều hành, chưa am hiểu pháp luật, bố trí nhân sự hông phù hợp với trách nhiệm…

b) Chính sách cho vay không hợp lý:

Chế độ tín dụng không hợp l như điều kiện chấp nhận khách hàng vay, điều kiện về tài sản đảm bảo, vế quy trình xét duyệt… thi chính sách tín dụng không đầy đủ, đúng đắn và thống nhất thì sẽ làm lệch lạc định hướng hoạt động tín dụng. Việc cấp tín dụng không đúng đối tượng sẽ tạo ra nhiều kẽ hở cho người sử dụng vốn và là nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng…

c) Rủi ro cán bộ tín dụng

Trình độ cán bộ tín dụng cũng thường là nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động tín dụng: cán bộ tín dụng không am hiểu về nghiệp vụ, ngành nghề kinh doanh xin vay… hoặc đạo đức nghề nghiệp không tốt đều có thể dẫn đến rủi ro. Cán bộ tín dụng không chấp hành đúng quy trình cho vay, thông đồng với khách hàng cố ý làm trái rút tiền ngân hàng. Đây chính là một nguyên nhân cơ bản gây nên rủi ro tín dụng. Khi cho vay cán bộ tín dụng không thực hiện đúng quy trình cho vay bỏ qua các bước cho vay cần thiết, thu thập thông tin không đầy đủ, thiếu chính xác, cho vay dựa trên cảm tính, không dựa tên tài liệu chứng minh… Vì vậy việc ra quyết định cho vay không chính xác, cho vay khi các điều kiện không đầy đủ, khả năng rủi ro xảy ra rất cao và khả năng thu hồi vốn là rất khó

  • Không thực hiện tốt các đảm bảo tín dụng như không thẩm định kỹ các yếu tố pháp lý, quyền sở hữu, quyền sử dụng các tài sản thế chấp hoặc nâng giá trị tài sản thế chấp vượt thực tế để nâng mức cho vay…
  • Do cạnh tranh để lôi kéo khách hàng nên hạ thấp các điều kiện vay vốn, đánh giá phân tích khách hàng đơn giản, muốn duy trì mối quan hệ truyền thống nên có thể giãn nợ, gia hạn nợ thậm chí đảo nợ trong lúc biết rõ khách hàng có thể không trả được nợ. (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

– Việc quyết định thời hạn cho vay không hợp lý cũng là nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động tín dụng.

2.5. Tác động của rủi ro tín dụng

Rủi ro làm suy giảm uy tín của ngân hàng:

Ngân hàng là một trung gian tín dụng, nguồn vốn họ dùng trong kinh doanh phần lớn là từ nguồn huy động. Rủi ro tín dụng xảy ra phản ánh hiệu quả kinh doanh, quản lý của ngân hàng kém, lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng sẽ suy giảm. Khi uy tín ngân hàng giảm thì việc huy động vốn sẽ vô cùng khó khăn, làm giảm quy mô hoạt động của ngân hàng

Rủi ro làm tăng chi phí:

Khi có một khoản nợ được coi là qúa hạn, thu nhập của ngân hàng sẽ bị giảm sút, một phần vì không thu được lãi hoặc nợ gốc như đã cam kết, trong khi vẫn phải trả lãi cho nguồn vốn huy động, một phần do các chi phí quản lý, giám sát phát sinh.

Rủi ro có thể làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng:

Rủi ro tín dụng khiến ngân hàng không thu hồi được vốn gốc và lãi, do vậy làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng.Nếu tình trạng này kéo dài sẽ dấn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán và phá sản.

Rủi ro đối với nền kinh tế: (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

Hoạt động kinh doanh ngân hàng mang tính hệ thống, có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều chủ thể trong toàn bộ nền kinh tế, do đó rủi ro tín dụng có thể gây ra hậu quả đối với hệ thống tài chính quốc gia.

Hoạt động ngân hàng dựa trên nguyên lý “ đi vay để cho vay” do đó chỉ cần người gửi tiền mất niềm tin vào một ngân hàng, họ rút tiền ồ ạt, tạo hiệu ứng tâm lý rút tiền ở các ngân hàng khác, hậu quả có thể khiến hệ thống ngân hàng sụp đổ hoàn toàn.

Rủi ro tín dụng có thể khiến ngân hàng dè dặt trong trong việc huy động vốn và cung ứng vốn cho nền kinh tế, làm cho sản xuất bị đình trệ, tăng trưởng kinh tế bị chậm lại, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp gia tăng, xã hội mất ổn định, chất lượng cuộc sống giảm sút.

2.6. Quy trình quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng. (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình ngân hàng hoạch định, tổ chức triển khai thực hiện và giám sát kiểm tra toàn bộ hoạt động cấp tín dụng nhằm tối đa hóa lợi nhuận với mức rủi ro có thể chấp nhận.Quy trình quản trị rủi ro tín dụng chủ yếu gồm :

  • Nhận biết rủi ro tín dụng
  • Đo lường rủi ro tín dụng
  • Xử lý giảm thiểu rủi ro tín dụng
  • Giám sát và báo cáo rủi ro tín dụng

2.6.1. Nhận biết rủi ro tín dụng:

Như đã phân tích nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, ta thấy rủi ro tín dụng luôn tiềm ẩn khả năng xảy ra. Chính vì vậy nhận biết các dấu hiệu rủi ro tín dụng là nhằm phát hiện nguồn gốc rủi ro, các nguy cơ, hiểm hoạ có thể xảy ra để có cơ sở đề xuất các biện pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp.

Có nhiều dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng trước và sau khi cấp tín dụng như:

  • Khách hàng nôn nóng vay tiền bằng mọi giá như chấp nhận lãi suất cao, chấp nhận các điều khoản ngân hàng đưa ra cho nó có thể bất lợi cho người vay.
  • Khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng: như không cung cấp báo cáo tài chính, chậm trễ, cản trở việc cán bộ ngân hàng đến kiểm tra, tụ thay đổi mục đích sử dụng vốn vay, trả nọ không đầy đủ và đúng hạn…
  • Dấu hiệu từ bản thân khách hàng như: các chỉ số tài chính xấu đi, sản phẩm tiêu thụ giảm, hàng tồn kho nhiều,… (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)
  • Dấu hiệu bên trong ngân hàng: tin dụng tăng trưởng cao bất thường trong thời gian ngắn, tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn tăng cao, chính sách tín dụng có nhiều kẽ hở để khách hàng và cán bộ tín dụng lợi dụng…
  • Dấu hiệu bên ngoài khách quan: thể hiện ở sự bất ổn của nền kinh tế, suy thoái kinh tế, thiên tai như lũ lụt, hạn hán, hoả hoạn…

Rủi ro tín dụng thường được biểu hiện bằng nhiều dấu hiệu, nhưng không có một mô hình nhất định nào để mô tả chính xác các dấu hiệu cho thấy rủi ro tín dụng sẽ xảy ra. hi một khách hàng có nhiều dấu hiệu rủi ro tín dụng thì xác suất rủi ro tín dụng xảy ra là rất lớn. Vì vậy, nhận dạng rủi ro tín dụng là khâu quan trọng nhất trong công tác quản trị rủi ro tín dụng.

2.6.2. Đo lường rủi ro tín dụng (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

Đo lường rủi ro tín dụng là việc xác định xác suất rủi ro tín dụng xảy ra hoặc mực độ tổn thất. Có nhiều mô hình đo lường rủi ro tín dụng:

Mô hình đo lường rủi ro tín dụng bằng phương pháp định lượng: chủ yếu dựa vào các chỉ tiêu:

  • Tốc độ tăng trưởng tin dụng : Nếu chỉ tiêu này tăng trưởng quá nóng có thể dẫn đến việc ngân hàng mất kiểm soát chất lượng tín dụng. Tốc độ tăng trưởng tín dụng ở các nước đang phát triển thường từ 10 – 20% trong khi đó ở các nước phát triển là 5 – 10%.
  • Tỷ lệ nợ xấu < 4% được xem là chấp nhận được. Tỷ lệ nợ quá hạn < 2% là rất tốt, từ 2 – 5% được xem là tốt, từ 5 – 10% xem là chấp nhận được, trên 10% là có vấn đề.
  • Tỷ trọng cho vay một khách hàng không quá 15% vốn tự có. Tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh đối với một khách hàng không vượt quá 25% vốn tự có. Tổng dư nọ cho vay đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có. Tổng dư nọ cho vay và số dư bảo lãnh đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 60% vốn tự có….

Mô hình đo lường rủi ro tín dụng bằng phương pháp định tính:

Phương pháp định tính giúp ngân hàng nhìn nhận được tổng thể về chất lượng danh mục tín dụng. Trên cơ sở đó ngân hàng trích lập dự phòng rủi ro và có các biện pháp duy trì chất lượng danh mục tín dụng. Trước hết ngân hàng phải có Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, căn cứ vào mực xếp hạng của khách hàng để phân loại nợ và các nhóm nợ thích hợp như sau:

Nhóm 1 : Các khoản nợ được đánh giá la có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi. Gồm các khoản tín dụng được xếp hạng A, AA, AAA.

Nhóm 2 : Các khoản nợ được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ. Gồm các khoản tín dụng được xế hạng B, BB, BBB.

Nhóm 3: Các khoản nợ được đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn, có khả năng tổn thất. Gồm các khoản tín dụng được xếp hạng CC, CCC.

Nhóm 4 : Các khoản nợ được đánh giá có khả năng tổn thất cao. Gồm các khoản tín dụng xếp hạng C (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

Nhóm 5: Các khoản nợ được đánh giá không có khả năng thu hồi, nguy cơ mất vốn cao. Gồm các khoản tín dụng xếp hạng D.

Mô hình này trực quan, dễ hiểu, dễ tính toán, Nhưng ngân hàng có thể làm giảm tỷ lệ nợ xấu bằng cách tăng dư nọ tín dụng khiến tỷ lệ nợ xấu giảm nhưng rủi ro thực tế tại ngân hàng lại không giảm mà còn có nguy cơ tăng cao.

Ngoài ra còn có nhiều phương pháp đo lường rủi ro tín dụng khác nữa như mô hình điểm số Z, mô hình khung giá trị VaR…

2.6.3. Xử lý giảm thiểu rủi ro tín dụng:

Các biện pháp truyền thống xử lý nợ chủ yếu theo hai hướng là khai thác nợ và thanh lý nợ.

Đối với biện pháp khai thác nợ được áp dụng đối với các khoản nợ có vấn đề nhưng chưa đến mức phải thanh lý theo trình tự của pháp luật. Tuỳ theo từng khoản nợ ngân hàng có thể áp dụng một số các biện pháp khai thác nợ sau:

  • Tư vấn cho khách hàng: đối với khách hàng đang có triển vọng tốt, truy gặp khó khăn trong trả nọ nhưng hoạt động kinh doanh vẫn trong tầm kiếm soát thì ngân hàng có thể đưa ra các biện pháp có tính chất tư vấn cho khách hàng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh… (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)
  • Tăng thêm vốn: Ngân hàng để nghị khách hàng tăng thêm vốn từ việc bán cổ phiếu.
  • Sáp nhập: Ngân hàng có thể đề nghị khách hàng sáp nhập với tổ chức khác có tiềm năng hơn từ đó tăng được khả năng trả nợ.
  • Cắt giảm hoạt động sản xuất kinh doanh: ngân hàng yêu cầu khách hàng ngừng hoặc cắt giảm kế hoạch mở rộng sản xuất kinh doanh không cần thiết khi đang thiếu vốn.
  • Tăng cường thu hồi các khoản phải thu, nhất là các khoản phải thu đã qua hạn nhằm tạo ra nguồn tiền để trả nợ.
  • Giảm thiểu hàng tồn kho: bằng các giảm giá bán, tăng chiết khấu để đẩy mạnh việc bán hàng.
  • Bổ sung tài sản bảo đảm: được thực hiện khi việc hoàn trả nọ gặp nhiều khó khăn, nguồn thu biến động, giá trị tài sản bảo đảm giảm sút.

– Cơ cấu lại nợ: như gia hạn nợ, cấu trúc lại kỳ hạn trả nợ gốc và lãi.

Biện pháp thanh lý nợ áp dụng trong trương hợp không còn khả năng thu hồi nợ hoặc khách hàng không thiện chí trả nợ:

  • Xử lý tài sản đảm bảo: Việc xử lý tài sản đảm bảo phải dựa trên điều khoản trong hợp đồng bảo đảm tín dụng. Các hình thức phát mại tài sản gồm có trực tiếp bán tài sản đảm bảo cho người mua, ngân hàng xiết nợ, bán đấu giá tài sản, trong trường hợp TSĐB có tranh chấp, hoặc khách hàng không chịu giao tài sản thì ngân hàng làm dơn gửi toà án để giải quyết.
  • Đa dạng hoá khách hàng: Mở rộng cho vay đối với nhiều thành phần kinh tế như cá nhân, doanh nghiệp, hợp tác xã,… không quá tập trung vào một đối tượng khách hàng nào để phân tán rủi ro
  • Đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng: Đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng ngoài mục đích đáp ứng những nhu cầu ngày một mới mẻ và nâng cao của khách hàng, làm phong phú các loại hình tín dụng tăng khả năng cạnh tranh với các ngân hàng khác mà còn có tác dụng không nhỏ tới phân tán rủi ro theo danh mục tài sản, góp phần giảm thiệt hại xảy ra khi có rủi ro với một số loại tài sản nhất định.

Đa dạng hoá loại hình cho vay: Tuỳ theo đặc điểm tưng khách hàng để áp dụng hình thức cho vay linh hoạt có thể là vay theo hạn mức tín dụng, vay thấu chi, vay từng lần…

Đa dạng hoá lĩnh vực ngành nghề: Hoạt động kinh doanh ở mỗi lĩnh vực, ngành nghề khác nhau thì có nguy cơ rủi ro khác nhau. NHTM nên mở rộng đầu tư cho vay vào mọi lĩnh vực ngành nghề như nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, … Cần ưu tiên đầu tư vào các lĩnh vực ít chịu ảnh hưởng của yếu tố thiên nhiên nhằm hạn chế rủi ro do yếu tố này gây ra.

Bán nợ 

Bán nợ là việc ngân hàng cho vay chuyển quyền sở hữu khoản nợ, tức quyền đòi nợ cho một người khác để thu hồi vốn trước khi hợp đồng tín dụng hết hạn [14, trang 1004]. Bán nợ xuất phát từ một số yêu cầu trong quản trị kinh doanh, như thiện khả năng thanh toán, tăng vốn đầu tư mới, tái cấu trúc danh mục tín dụng, hạn chế rủi ro và tăng thu nhập.

Xem thêm nhiều bài luận văn mẫu khác tại đây:

===> Luận văn thạc sĩ Tài Chính Ngân Hàng

2.7. Một số kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng của thế giới và Việt Nam (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

2.7.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc

Hoạt động tín dụng tại Trung Quốc cho thấy các khoản Nợ xấu của ngân hàng thương mại tại nước này thường xuất phát từ:

Thứ nhất, dư nợ tín dụng tăng quá nhanh, trong khi cho vay những lĩnh vực ngoài thị trường truyền thống và dựa vào thế chấp, người bảo lãnh, danh tiếng – là những nguồn trả nợ thứ yếu – mà không đánh giá nguồn trả nợ chính.

Thứ hai, trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng có nhiều hạn chế so với tiêu chuẩn.

Thứ ba, coi nhẹ các tiêu chuẩn an toàn tín dụng như: tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản thế chấp quá cao; Cơ cấu khoản vay kém hiệu quả, cho vay quá khả năng chi trả; hông văn bản hoá thoả thuận cụ thể về mục đích và cách sử dụng khoản vay, kế hoạch nguồn trả nợ.

Thứ tư, giám sát sau giải ngân kém; không giám sát tiến độ rút vốn vay, sử dụng vốn vay,… hông có chứng từ địa chỉ giao dịch với khách hàng vay, hồ sơ pháp l không đầy đủ; hông thu thập, xác minh và phân tích các báo cáo tài chính khách hàng nên không nhận biết được các dấu hiệu cảnh báo như chu kỳ luân chuyển tồn kho và khoản phải thu chậm lại, chu kỳ các khoản phải trả dài ra và phát sinh lỗ ròng trong kinh doanh.

Nhận biết và xử lý sớm, hiệu quả các nguyên nhân trên là điều kiện quan trong nhất để giảm thiểu rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại ở Trung Quốc.

2.7.2. Kinh nghiệm của Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam ( VietinBank). (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

Vietinbank đạt được thành công như ngày hôm nay là do sự đổi mới và thích nghi với môi trường mới, xây dựng chính sách tín dụng hướng tới phục vụ nhu cầu của khách hàng, tạo ra lợi nhuận trên cơ sở chấp nhận rủi ro đi kèm, các quyết định tín dụng dựa trên đánh giá lợi ích, rủi ro và có biện pháp kiểm soát rủi ro.

VietinBank đã chuyển đổi mô hình tổ chức bộ máy tín dụng trong toàn hệ thống với các chức năng độc lập, vừa đảm bảo tính chuyên nghiệp cao, vừa tăng cường khả năng giám sát giữa các chức năng, theo đó chức năng nghiên cứu tham mưu ban hành chính sách tín dụng được tách biệt với chức năng quản lý khách hàng, thẩm định và đề xuất tín dụng (Phòng khách hàng); thẩm định rủi ro và quản lý danh mục tín dụng (phòng Quản lý rủi ro); theo dõi, quản lý các khoản nợ bị suy giảm khả năng trả nợ (Phòng quản lý nợ có vấn đề); kiểm tra, giám sát tín dụng độc lập (Ban kiểm tra, kiểm soát nội bộ). Nhờ đó, quá trình đổi mới chính đã mang lại những kết quả quan trọng. Vietinbank chú trọng quản lý điều hành tập trung bằng cơ chế, chính sách, quy trình tín dụng, thực hiện phân quyền cho các cá nhân, đơn vị trong quá trình thực hiện. Hoạt động tín dụng được diễn ra thống nhất trong toàn hệ thống, đảm bảo các giới hạn chấp nhận rủi ro thông qua các tiêu chuẩn cấp tín dụng, cũng như các biện pháp quản lý tín dụng, đảm bảo rằng dù khách hàng quan hệ tín dụng ở bất cứ chi nhánh nào, cũng được hưởng lợi các sản phẩm tín dụng như nhau. Đồng thời, các cá nhân, đơn vị được quyền chủ động thực hiện thông qua việc phân cấp, uỷ quyền của Hội đồng Quản trị, Tổng giám đốc và các cấp có thẩm quyền trên cơ sở phù hợp với môi trường, chất lượng hoạt động, xếp hạng tín dụng của từng đơn vị và năng lực, trình độ, kinh nghiệm quản lý của người được uỷ quyền.

2.7.3. Bài học kinh nghiệm về hạn chế rủi ro tín dụng với NHTM ở Việt Nam

Qua nghiên cứu công tác quản trị rủi ro tín dụng một số ngân hàng trong nước và nước ngoài, có thể rút ra một số nhận xét sau:

Một là: Hoàn thiện bộ máy quản trị rủi ro tín dụng từ hội sở chính đến các chi nhánh với sự phân cấp rõ ràng về mức phán quyết, chính sách khách và danh mục đầu tư. NHTM cần chú hơn đến việc phân quyền và kiểm soát việc phân quyền phán quyết trong cho vay để có thể giải quyết nhanh, chính xác trong hoạt động cho vay, tăng trách nhiệm của mỗi cán bộ tín dụng.

Hai là: Hoàn thiện quy trình cho vay theo hướng gọn nhẹ, đảm bảo tính an toàn, hiệu quả và tuân thủ theo quy định của pháp luật. (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

Ba là: Tổ chức thực hiện quy trình tín dụng, quy trình quản lý rủi ro theo đúng kế hoạch, lộ trình, có thể tổ chức thực hiện thử nghiệm trước sau đó đánh giá kết quả và rút kinh nghiệm.

Bốn là: Hoàn thiện văn bản pháp l theo chuẩn mực quốc tế. Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát. Kiểm tra, giám sát sau khi cho vay là một quá trình

không thể thiếu trong hoạt động hạn chế rủi ro tín dụng nhằm kịp thời phát hiện và ngăn chặn những rủi ro có thể phát sinh từ đó hoàn thiện cơ chế giám sát rủi ro tín dụng.

Năm là: Chuyển đổi mô hình quản lý theo chiều ngang sang mô hình quản lý theo chiều dọc. Phân tách bộ phận tín dụng thành các bộ phận chuyên môn khác nhau như quan hệ khách hàng (tập trung chủ yếu vào hoạt động tiếp thị, tiếp xúc khách hàng, khởi tạo tín dụng), bộ phận quản lý rủi ro tín dụng (thực hiện thẩm định tín dụng độc lập và ra các ý kiến về cấp tín dụng cũng như giám sát quá trình thực hiện các quyết định tín dụng của bộ phận quan hệ khách hàng), bộ phận tác nghiệp (thực hiện lưu trữ hồ sơ, nhập hệ thống máy tính và quản lý khoản vay…).

Việc thay đổi mô hình tổ chức và cơ cấu bộ máy là hướng lựa chọn đúng đắn theo mô hình hiện đại trên thế giới, bước đầu mang lại hiệu quả nhất định. Tuy nhiên trong điều kiện Việt Nam hiện nay, nó cũng bộc lộ một số khó khăn. Trước hết, khó khăn lớn nhất xuất phát từ yếu tố con người bởi sự thay đổi mô hình tổ chức đã ảnh hưởng đến quyền hạn của các cán bộ có liên quan đến quá trình cấp tín dụng. Khó khăn thứ hai có thể kể đến là môi trường thông tin, trong đó tính minh bạch, chính xác, rõ ràng của các thông tin và độ tin cậy của các cơ quan cung cấp tại Việt Nam còn rất nhiều hạn chế. Việc tìm kiếm thông tin cực kỳ khó khăn và tình trạng thông tin bất cân xứng vẫn là một tồn tại chưa thể khắc phục được trên thị trường tài chính Việt Nam. Quy trình cấp tín dụng mới lại yêu cầu tách bạch chức năng bán hàng và chức năng thẩm định tín dụng, do đó, cán bộ thẩm định không tiếp xúc khách hàng nên phải có đầy đủ các thông tin để có thể đưa ra các quyết định tín dụng đúng đắn và hợp lý. (Cơ Sở Lý Luận Về Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng)

Đây là những bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu cho các NHTM Việt Nam nói chung đối với Agribank Tiên Lãng nói riêng trong việc hạn chế và phòng ngừa rủi ro tín dụng, góp phần làm lành mạnh hoạt động của hệ thống ngân hàng và phát triển bền vững.

DOWNLOAD FILE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chat Zalo
Chat Facebook
0932091562