Đặc điểm bảo đảm nghĩa vụ hoạt động cho vay của Ngân hàng

Nhằm hỗ trợ, giúp đỡ các bạn học viên đang gặp khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu luận văn thạc sĩ về hoạt động cho vay tại ngân hàng. Luận văn Panda có chia sẻ một số Đặc điểm của thực hiện bảo đảm nghĩa vụ trong hoạt động cho vay của các Ngân hàng thương mại, các bạn có thể tham khảo bài viết dưới đây nhé.

Thứ nhất, các biện pháp bảo đảm tạo ra hệ quả pháp lý là: một mặt hạn chế quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với các tài sản bảo đảm của chủ sở hữu tài sản; mặt khác, thiết lập cho bên có quyền – bên nhận bảo đảm là ngân hàng quyền được ưu tiên theo đuổi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, so với các chủ thể khác (là những chủ thể không được đảm bảo bằng tài sản đó). Đây là đặc điểm quan trọng nhất, phản ánh bản chất của các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự nói chung và các biện pháp bảo đảm trong hoạt động ngân hàng nói riêng. Nếu không có thuộc tính này, sự bảo đảm bằng tài sản sẽ không còn nhiều ý nghĩa nữa trong việc bảo đảm thi hành nghĩa vụ của người có nghĩa vụ đối với người có quyền. Đặc điểm này cho phép phân biệt quyền của bên có quyền có bảo đảm với bên có quyền không có bảo đảm trong quá trình chiếm hữu, quản lý, theo đuổi tài sản và bán tài sản để thực hiện cam kết. Sự khác biệt này thể hiện ở chỗ, khi các biện pháp bảo đảm được thiết lập, bên có quyền có bảo đảm sẽ có quyền ưu tiên theo đuổi tài sản bảo đảm, bất luận tài sản đó đang nằm trong tay ai, trong khi các chủ thể có quyền nhưng không được đảm bảo bằng tài sản đó không có quyền này. Đương nhiên cần lưu ý rằng việc thiết lập các biện pháp bảo đảm giữa người có quyền với người có nghĩa vụ (có thể là chính người đó hoặc người thứ ba) đối với một khối tài sản bảo đảm cụ thể nào đó, không hề ngăn cản người có quyền thực hiện quyền yêu cầu Tòa án cho phép kê biên, phát mại các tài sản không phải là tài sản bảo đảm của người có nghĩa vụ, nếu khối tài sản đem đảm bảo không đủ để thanh toán cho người có quyền. Trong hoạt động của các Ngân hàng thương mại, đặc biệt là trong hoạt động cho vay có bảo đảm bằng tài sản, nguyên tắc này thể hiện ở chỗ, nếu đến hạn mà người vay không trả được nợ thì chủ nợ là ngân hàng có quyền tự động trích tiền trên tài khoản của người vay để tự thu hồi nợ hoặc tổ chức phát mại tài sản để thu hồi nợ cho mình theo trình tự do pháp luật quy định (nếu người vay không có tài khoản tại ngân hàng hoặc trên tài khoản của họ không có tiền). Trong trường hợp tài sản bảo đảm không phát mại được mà phải giải chấp hoặc phát mại được nhưng không đủ thanh toán nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu Tòa án cho phép kê biên, phát mại những tài sản khác để thu hồi nợ, với tư cách là một chủ nợ không có bảo đảm. Trong trường hợp này ngân hàng có quyền tương đương như các chủ nợ không có bảo đảm khác trong việc yêu cầu kê biên và bán đấu giá các tài sản thuộc quyền sở hữu của bên vay để thu hồi nợ. Triết lý cơ bản để pháp luật quy định quyền này cho ngân hàng là: Tài sản của người có nghĩa vụ là bảo đảm chung cho những người có quyền, tương ứng với tỷ lệ quyền của mỗi người đó đối với người có nghĩa vụ, trừ phi người có quyền có lý do chính đáng để được hưởng ưu đãi từ việc thanh toán tài sản.

Thứ hai, mục đích của các biện pháp bảo đảm trong hoạt động của các Ngân hàng thương mại là đảm bảo thi hành nghĩa vụ của khách hàng với ngân hàng. Xét riêng trong bảo đảm tiền vay, nghĩa vụ này được xác định bao gồm nợ gốc, nợ lãi, các phụ phí, tiền bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Do mục đích của việc thiết lập sự bảo đảm bằng tài sản là để thi hành một nghĩa vụ tài sản cụ thể nên trong trường hợp nghĩa vụ cần bảo đảm không tồn tại thì sự bảo đảm sẽ không còn cần thiết nữa. Điều này khẳng định tính chất phụ thuộc của các biện pháp bảo đảm vào nghĩa vụ tài sản phát sinh từ giao dịch được bảo đảm.

Thứ ba, các biện pháp bảo đảm trong hoạt động của các Ngân hàng thương mại có tính chất là một hợp đồng phụ và hiệu lực của nó phụ thuộc vào hợp đồng chính (hợp đồng tín dụng). Sự phụ thuộc này thể hiện ở chỗ: có hợp đồng tín dụng thì mới có thể có hợp đồng bảo đảm, nếu hợp đồng chính – hợp đồng tín dụng vô hiệu sẽ đương nhiên dẫn tới sự vô hiệu của hợp đồng bảo đảm. Ngược lại nếu hợp dồng bảo đảm vô hiệu thì sẽ không ảnh hưởng gì đến hiệu lực của hợp đồng tín dụng và khi đó, hợp đồng tín dụng sẽ trở thành hợp đồng không có bảo đảm bằng tài sản.

Thứ tư, phạm vi bảo đảm không vượt quá phạm vi nghĩa vụ được xác định trong nội dung của hợp đồng tín dụng. Việc quy định phạm vi bảo đảm trong các biện pháp bảo đảm thuộc phạm vi của nghĩa vụ chính trong hợp đồng tín dụng nhằm chỉ rõ trách nhiệm tối đa của bên chủ thể có nghĩa vụ đối với bên có quyền là các Ngân hàng thương mại. Không vì áp dụng các biện pháp bảo đảm mà bên có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm lớn hơn nghĩa vụ vốn được xác định trong hợp đồng tín dụng được xác định giữa các bên, bởi vì xét cho cùng mục đích của việc áp dụng các biện pháp bảo đảm là nhằm hoàn trả lại những gì đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, chứ không phải đưa lại cho bên bị vi phạm (tổ chức tín dụng) cái họ có thể có lớn hơn khi nghĩa vụ được thực hiện đúng.

Thứ năm, cùng với sự phát triển trong tư tưởng lập pháp, đối tượng của các biện pháp bảo đảm trong hoạt động của các Ngân hàng thương mại không chỉ dừng lại ở một tài sản hoặc khối tài sản cụ thể trị giá được bằng tiền như trước kia, mà còn có thể bằng uy tín cua các tổ chức chính trị – xã hội (trong biện pháp tín chấp). Ví dụ: đối với biện pháp cầm cố hoặc thế chấp các bên nhất thiết phải xác định rõ khối tài sản đem bảo đảm cho nghĩa vụ là những tài sản cụ thể nào. Còn đối với biện pháp bảo lãnh thì theo nguyên tắc là mọi tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người bảo lãnh đều có thể trở thành tài sản đem bảo lãnh cho nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ với ngân hàng. Các tài sản này phải đảm bảo những tiêu chuẩn cần thiết theo quy định của pháp luật như: Thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người vay hoặc người thứ ba – người bảo lãnh, được phép giao dịch, không có tranh chấp, được mua bảo hiểm nếu là tài sản bắt buộc phải mua bảo hiểm theo quy định của pháp luật… Ngoài ra nếu bảo đảm bằng uy tín của các tổ chức chính trị – xã hội thì phải là các tổ chức chính trị – xã hội được quy định trong luật và cá nhân, hộ gia đình nghèo được bảo đảm bắt buộc phải là thành viên của một trong số các tổ chức chính trị – xã hội đó. “Tổ chức chính trị – xã hội ở cơ sở có thể bảo đảm bằng tín chấp cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng theo quy định của pháp luật” (Điều 344, 345 BLDS 2015). Việc xác định rõ khối tài sản đem bảo đảm hoặc các tổ chức chính trị – xã hội cụ thể đứng ra bảo đảm là rất cần thiết, nhằm thiết lập quyền ưu tiên cho ngân hàng trong viêc theo đuổi tài sản đó, đồng thời ngăn các chủ thểkhông được bảo đảm bằng tài sản ấy thực hiện những hành vi chi phối với tài sản, gây bất lợi cho phía ngân hàng. Ngoài ra, việc xác định rõ như vậy còn nhằm mục đích ngăn ngừa nguy cơ người có nghĩa vụ tìm cách tẩu tán tài sản để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ khi đến thời hạn phải thực hiện mà không thực hiện được hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Xác định tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là vấn đề được đặt ra trong tất cả các trường hợp xác lập giao dịch bảo đảm. Tuy nhiên, ý nghĩa của vấn đề chỉ đặc biệt nổi rõ trong trường hợp bảo đảm bằng biện pháp thế chấp tài sản và bảo lãnh. Lý do chính là với các biện pháp bảo đảm loại này, thì tài sản bảo đảm, trên nguyên tắc, vẫn do người bảo đảm nắm giữ và sử dụng, khai thác trong những điều kiện bình thường.

Thứ sáu, các biện pháp bảo đảm trong hoạt động của các Ngân hàng thương mại chỉ có thể được áp dụng khi đến thời điểm phải thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hoặc theo những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ đã được thỏa thuận trong hợp đồng. Ví dụ: trong giao dịch bảo đảm tiền vay tài sản bảo đảm chỉ được phát mại khi người vay không thi hành nghĩa vụ trả nợ vào ngày đáo hạn hoặc do vi phạm cam kết về việc sử dụng vốn,sai sót trong việc cung cấp thông tin…Việc phát mại này phải được thực hiện dựa trên phương án mà các bên đã thỏa thuận hoặc phương án do pháp luật quy định, trên tinh thần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên theo nguyên tắc công bằng.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chat Zalo
Chat Facebook
0932091562