Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì?

Rate this post

Tải miễn phí mẫu Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì? cho các bạn đang làm luận văn thạc sĩ ngành Tài chính Ngân Hàng, còn rất nhiều nội dung tham khảo về Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại, các bạn có thể tham khảo tại các bài viết tiếp theo của Luận văn Panda.

Lưu ý: Trong quá trình làm đề tài luận văn thạc sĩ Tài Chính Ngân Hàng, nếu các bạn không có thời gian làm bài, hay những khó khăn khác có thể liên hệ với Dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ của bên mình để được hỗ trợ làm bài qua:

SĐT/ZALO: 0932.091.562

Mục lục ẩn

1. Khái niệm và phân loại tín dụng

1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

  • Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định. Tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung :
  • Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng vốn.
  • Sự chuyển nhượng mang tính tạm thời hay có thời hạn.
  • Sự chuyển nhượng này có kèm theo phí.

Tuy nhiên, đây không phải là quan hệ chuyển nhượng vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa vốn sang nơi tạm thời thiếu vốn mà thông qua một tổ chức trung gian là ngân hàng. Nó vẫn mang bản chất chung của quan hệ tín dụng là quan hệ vay mượn hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định. Ưu điểm của tín dụng ngân hàng so với các hình thức khác như: khối lượng vốn lớn do huy động tiền nhàn rỗi từ nhiều thành phần trong nền kinh tế, và thời hạn cho vay phong phú bao gồm cả ngắn hạn – trung hạn – dài hạn, chủ yếu là dưới hình thức tiền mặt nên Tín dụng ngân hàng có thể đem lại mức độ thỏa mãn cho mọi đối tượng khách hàng.

1.2. Phân loại tín dụng ngân hàng.

Tín dụng ngân hàng được phân chia nhiều loại khác nhau tùy theo tiêu thức phân loại khác nhau:

Dựa theo mục đích sử dụng của tín dụng: (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

  • Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp thương mại và dịch vụ.
  • Cho vay tiêu dùng cá nhân là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các dụng cụ đắt tiền và các khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ.

Dựa theo thời hạn cho vay:

  • Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn đến một năm. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động.
  • Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Mục đích của loại cho vay này là tài trợ đầu tư vào tài sản cố định.
  • Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho các dự án đầu tư.

Dựa theo tính chất đảm bảo tiền vay của khoản vay: (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

  • Tín dụng có đảm bảo: Là loại cho vay dựa trên các đảm bảo cho vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào đó.
  • Tín dụng không có đảm bảo: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay.

Dựa vào phương thức cho vay:

  • Theo quy chế cho vay của ngân hàng nhà nước các tổ chức tín dụng thoả thuận với khách hàng vay việc áp dụng các phương thức cho vay:
  • Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
  • Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.
  • Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
  • Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng trong đó, có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác. (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)
  • Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
  • Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
  • Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng.
  • Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.

Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay.

  • Cho vay chỉ có một kì hạn trả nợ còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn.
  • Cho vay nhiều kì hạn trả nợ  hay còn gọi là cho vay trả góp.
  • Cho vay trả nợ nhiều lần nhung không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tùy vào khả năng tài chính của người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào.

Xem Thêm chi tiết về quy trình làm luận văn và bảng giá viết thuê luận văn thạc sĩ tại đây:

===> Bảng Giá viết luận văn thạc sĩ

1.3. Nguyên tắc và điều kiện cho vay. (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

Nguyên tắc cho vay

  • Nguyên tắc hoàn trả: khoản tín dụng cho vay phải được thanh toán đầy đủ nguyên gốc sau khi sử dụng để ngân hàng bảo toàn được vốn ở mức tối thiểu nhất để có thể duy trì được hoạt động.
  • Nguyên tắc thời hạn: khoản tín dụng phải được hoàn trả đúng vào thời điểm đã được hai bên xác định cụ thể và được ghi nhận trong thỏa thuận vay vốn giữa khách hàng và ngân hàng.
  • Nguyên tắc trả lãi: ngoài việc thanh toán đầy đủ, đúng hạn gốc khách hàng phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi tính bằng tỷ lệ % trên số tiền vay, được coi là giá mua quyền sử dụng vốn.
  • Nguyên tắc tài sản đảm bảo: để bảo vệ nguồn vốn của ngân hàng khi khách hàng vi phạm các điều kiện vay vốn hoặc khi chủ tài sản thế chấp không còn khả năng thanh toán cho ngân hàng.
  • Nguyên tắc sử dụng vốn vay đúng mục đích: tất cả các khoản tín dụng phải được sử dụng đúng mục đích vay vốn thể hiện trong hồ sơ vay vốn.

Điều kiện cho vay.

  • Khách hàng phải có năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
  • Khách hàng phải có khả năng tài chính đảm bảo trả được nợ trong thời hạn cam kết.
  • Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp. (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)
  • Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh dịch vụ khả thi, phương án đầu tư phục vụ đời sống khả thi kèm phương án trả nợ khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật.
  • Thực hiện đầy đủ các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và hướng dẫn của ngân hàng.

1.4. Bảo đảm tín dụng

Khái niệm

Bảo đảm tín dụng còn được gọi là bảo đảm tiền vay là việc tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay.

Các hình thức bảo đảm tín dụng

Bảo đảm tín dụng được thể hiện bằng nhiều hình thức bảo đảm khác nhau.

Thế chấp tài sản

Thế chấp tài sản là việc bên đi vay sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình hay giá trị quyền sử dụng hợp pháp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ với bên cho vay và không chuyển giao tài sản cho bên nhận thế chấp. Các loại bất động sản và tài sản gắn liền; giá trị quyền sử dụng đất. Bảo đảm bằng thế chấp tài sản được áp dụng phổ biến trong ngân hàng đặc biệt là đối với doanh nghiệp và người tiêu dùng.

Bảo đảm bằng thế chấp tài sản cho phép người vay được sử dụng tài bảo đảm phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, quá trình sử dụng sẽ làm biến dạng tài sản và giảm giá trị của tài sản, do khả năng kiểm soát của ngân hàng còn hạn chế sẽ gây thiệt hại cho ngân hàng. (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

Cầm cố tài sản.

Cầm cố tài sản là việc bên đi vay giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên cho vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, tài sản có loại không cần phải đăng ký quyền sở hữu, có loại cần đăng ký sở hữu như xe, phương tiện vận chuyển đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, khi cầm cố tài sản phải giao cho bên cho vay. Đối với tài sản có đăng ký sở hữu, khi cầm cố hai bên có thể thỏa thuận để bên cầm cố giữ tài sản hoặc giao tài sản cho bên thứ 3 giữ.

Khi cho vay dựa trên tài sản cầm cố, ngân hàng kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ, an toàn của vật cầm cố như về quyền sở hữu của khách hàng, khả năng chi trả của giấy tờ, giá trị thị trường khi xảy ra rủi ro. Ngân hàng phải cùng khách hàng định giá vật cầm cố, ký kết hợp đồng cầm cố, quy định nghĩa vụ của các bên trong quá trình cầm cố, quyền phát mãi tài sản khi khách hàng không thanh toán nợ cho ngân hàng.

Bảo lãnh của bên thứ ba.

Bảo đảm bằng bảo lãnh của bên thứ ba là việc bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh khi đến hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng. Đối với người bảo lãnh chưa có uy tín, ngân hàng đòi hỏi phải có tài sản đảm bảo cho bảo lãnh đó.

Xem nhiều lời mở đầu tại đây:

===> Lời mở đầu trong luận văn thạc sĩ

2.1. Rủi ro tín dụng (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

2.1.1. Khái niệm rủi ro tín dụng

Theo thông tư Số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 do Thống đốc NHNN ban hành Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì khái niệm rủi ro tín dụng được định nghĩa như sau:

“ Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng” là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.

Như vậy có thể kết luận “ Rủi ro tín dụng ” là rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không có khả năng trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng.

2.1.2. Phân loại rủi ro tín dụng.

Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia như sau:

Theo sơ đồ trên thì rủi ro được chia ra thành hai loại là rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

Rủi ro giao dịch: là một hình thức rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.

Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.

Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều kiện trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.

Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý khoản vay có vấn đề.

Rủi ro danh mục: Là một hình thức rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng được phân chia thành hai loại: Rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.

Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc nghành, lĩnh vực kinh tế nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.

Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định, hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.

2.1.3. Đặc điểm của rủi ro tín dụng. (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

Rủi ro mang tính tất yếu vì nó luôn gắn liền với sự vận động của nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường người kinh doanh không biết trước được những biến động của thị trường trong tương lai. Nên các ngân hàng cần đánh giá cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp và dựa trên mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận để tìm được những lợi ích xứng đáng, những rủi ro ngân hàng phải chấp nhận. Do đó ngân hàng cần chủ động tìm ra các phương pháp đối phó với rủi ro.

Rủi ro mang tính gián tiếp. Đặc điểm này xảy ra sau khi ngân hàng giải ngân vốn vay và quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng. Do ngân hàng thường được biết về thông tin sử dụng vốn của khách hàng sau hoặc không đầy đủ thông tin về những rủi ro khách hàng gặp phải khi sử dụng vốn.

Rủi ro mang tính đa dạng và phức tạp. Đặc điểm này mang tính tất yếu đối với các NHTM vì ngân hàng đóng vai trò trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ. Là hệ quả của rủi ro mang tính gián tiếp vì mối liên hệ gián tiếp với rủi ro tín dụng được thể hiện rõ hơn qua tính đa dạng và phức tạp của rủi ro.

2.2. Nguyên nhân xảy ra rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.

2.2.1. Nguyên nhân từ phía khách hàng.

Sử dụng vốn sai mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh, hiệu quả kinh doanh không phát huy triệt để nên khi đến hạn không có khả năng thanh toán cho ngân hàng.

Khách hàng không có thiện chí trả nợ vay, kéo dài nợ khi đến hạn hoặc cố ý không trả nợ và chiếm dụng vốn ngân hàng.

Khả năng quản lý kinh doanh kém. Doanh nghiệp không có phương án kinh doanh hiệu quả, không có khả năng dự đoán kinh tế trong tương lai, hạch toán ngân quỹ không chính xác, không dự tính được các khoản chi trong tương lai nên dẫn đến xác định sai thu nhập trả nợ ngân hàng. (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

Tình hình tài chính của doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch. Khi quyết định cho vay ngân hàng cần chú ý đến những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, tỷ lệ nợ cao so với vốn tự có. Cán bộ tín dụng cần xem xét kĩ lại sổ sách kế toán mà khách hàng cung cấp, vì đôi khi sổ sách kế toán chỉ mang tính hình thức.

2.2.2. Nguyên nhân từ bản thân ngân hàng.

Đối với rủi ro tín dụng cho khoản vay, nguyên nhân trước hết về phía ngân hàng chưa có chính sách tín dụng nhất quán đối với việc cho vay, chế độ tín dụng ngắn, trung và dài hạn, các quy định về bảo đảm tiền vay. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín về phía ngân hàng có thể kể đến các nguyên nhân sau:

Việc mở rộng hoạt động tín dụng quá mức của ngân hàng thường mang đến nhiều rủi ro tín dụng. Do trong quá trình mở rộng quy mô họat động thì việc lựa chọn khách hàng không kỹ càng, khả năng quan sát, quản lý khách hàng của cán bộ tín dụng đối với việc sử dụng vốn vay giảm hiệu quả, đồng thời quy trình hoạt động tín dụng không còn đảm bảo chặt chẽ theo quy trình.

Trình độ phân tích, thẩm định, đánh giá khách hàng và các dự án vay vốn của các cán bộ còn hạn chế. Đối với các cán bộ tín dụng trực tiếp nhận hồ sơ vay của khách hàng sẽ làm tăng rủi ro tín dụng khi các dự án không khả thi, xem xét khả năng trả nợ của khách hàng chưa chặt chẽ. Chạy theo số lượng không chú trọng đến chất lượng của khoản vay, chủ quan và tin tưởng vào sự thành công phương án/dự án kinh doanh của khách hàng.

Thiếu thông tin về khách hàng hay thiếu thông tin tín dụng tin cậy, kịp thời, chính xác để xem xét trước khi cấp tín dụng. Hệ thống thông tin của ngân hàng về khách hàng chưa chính xác nên việc đánh giá khách hàng chưa chính xác.

Năng lực và phẩm chất đạo đức của một số cán bộ tín dụng còn yếu kém, chính sách đãi ngộ cán bộ ngân hàng chưa thỏa đáng. Năng lực chuyên môn của cán bộ tín dụng là yếu tố ảnh hưởng ít vì đa số đã được đào tạo về trình độ chuyên môn, phần lớn là do một số cán bộ vì lợi ích bản thân cấu kết với khách hàng dẫn đến rủi ro cho khoản vay là rất cao.

Ngân hàng thiếu bộ phận chuyên trách theo dõi, quản lý rủi ro, quản lý hạn mức tín dụng tối đa cho từng đối tượng khách hàng với từng ngành nghề sản xuất kinh doanh khác nhau để phân tán rủi ro và đưa ra các dự báo cần thiết.

Yếu tố cạnh tranh của các tổ chức tín dụng nhằm thu hút khách hàng khiến các ngân hàng không chú trọng nhiều đến yếu tố chất lượng trong quá trình thẩm định và xem xét hồ sơ khách hàng mà chỉ chú trọng đến lợi nhuận và sẵn sàng chấp nhận rủi ro.

2.2.3. Nguyên nhân khách quan. (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định: Môi trường kinh tế có ảnh hưởng nhiều đến sức mạnh tài chính của ngân hàng và cả khách hàng. Sự phát triển hay trì trệ của môi trường kinh doanh sẽ ảnh hưởng một phần đến lợi nhuận của người đi vay. Khi nền kinh tế giai đoạn phát triển thuận lợi thì hoạt động kinh doanh của người đi vay cũng sẽ ổn định, tài chính an toàn nên rủi ro tín dụng đối với ngân hàng giảm.

Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi: Kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh tiền tệ đặc biệt và ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. Chính vì vậy, nó cần được quản lý và điều hành bởi hệ thống pháp luật, chịu sự kiểm soát khắt khe của các cơ quan Nhà nước. Khi môi trường pháp lý hoạt động quản lý và kiểm soát không hiệu quả trong việc đưa ra các quy định sẽ đẩy ngân hàng vào việc kinh doanh tín dụng khó khăn và rủi ro. Ngoài ra, sự thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan Nhà nước chưa thực sự hiệu quả.

Việc triển khai luật và các văn bản đã có vào hoạt động của ngân hàng còn chậm chạp và còn gặp nhiều vướng mắc bất cập. Đây là nguyên nhân thể hiện rõ nét nhất vì chịu sự ảnh hưởng của một số văn bản cưỡng chế thu hồi nợ và cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Khi có rủi ro xảy ra ngân hàng không được trực tiếp xử lý tài sản đảm bảo cho khoản vay, do ngân hàng chỉ là cơ quan kinh doanh chứ không phài là cơ quan quyền lực nhà nước. Không được cưỡng chế khách hàng để xử lý tài sản đảm bảo mà phải thông qua Tòa án xử lý với nhiều thủ tục phức tạp và rườm rà.

2.3. Hậu quả của rủi ro tín dụng ngân hàng. (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

Khi có RRTD xảy ra thì ảnh hưởng đến nhiều chủ thể. Trước tiên là ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân ngân hàng và khách hàng và sau đó là tác động đến nền kinh tế.

2.3.1. Hậu quả rủi ro tín dụng đối với ngân hàng

Khi xảy ra rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu hồi được vốn gốc và lãi vay và phải thanh toán chi trả cho các khoản tiền huy động khi đến hạn điều này dẫn đến việc ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi, lợi nhuận của ngân hàng bị suy giảm, kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng trong kỳ kinh doanh bị ảnh hưởng. Với số vốn không thu hồi được sẽ làm giảm vòng quay vốn tín dụng làm cho ngân hàng kinh doanh không có hiệu quả.

Mặt khác, tỷ lệ nợ quá hạn cao, làm cho uy tín và niềm tin vào tiềm lực tài chính của ngân hàng bị suy giảm dẫn đến khả năng huy động vốn của ngân hang suy giảm theo.Với một khoản vay không có khả năng thu hồi vốn thì ngân hàng phải sử dụng chính nguồn vốn của mình để chi trả cho các khoản tiền huy động khi đến một mức nhất định, ngân hàng không đủ nguồn vốn để chi trả nữa thì sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, có nguy cơ gặp rủi ro thanh khoản. Và kết quả làm thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính suy giảm, giảm sức cạnh tranh và uy tín của ngân hàng. Kết quả kinh doanh ngày càng xấu thì dần dần ngân hàng có khả năng thua lỗ và đến thời điểm của sự phá sản nếu không có biện pháp xử lý và khắc phục.

2.3.2. Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với khách hàng.

Đối với bản thân của người đi vay không có khả năng hoàn trả sẽ không có cơ hội tiếp cận vốn của ngân hàng, thậm chí đối với tất cả các nguồn vốn khác.

Cơ hội tiếp cận vốn của các chủ thể đi vay khác cũng bị hạn chế do ngân hàng phải hạn chế rủi ro xảy ra nên có các biện pháp thắt chặt trong việc cho vay và mở rộng quy mô hoạt động.

2.3.3. Hậu quả rủi ro tín dụng đối với nền kinh tế. (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

Ngân hàng được xem là một tổ chức kinh tế đóng vai trò trung gian cho tất cả các ngành kinh tế, là kênh thu hút và cung cấp tiền cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân nên khi ngân hàng xảy ra rủi ro sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến các cá nhân, doanh nghiệp kinh doanh trong nhiều lĩnh vực kinh tế.

Khi rủi ro xảy ra ở mức tổn thất nhiều đến ngân hàng sẽ có hiệu ứng dây chuyền xảy ra trong hệ thống ngân hàng. Gây nên tình trạng khủng hoảng kinh tế, ảnh hưởng đến cuộc sống an sinh xã hội và phát triển kinh tế của đất nước.

XEM THÊM NHIỀU CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG LUẬN VĂN THẠC SĨ TẠI ĐÂY:

===>>> CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG LUẬN VĂN THẠC SĨ

2.4. Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng.

2.4.1. Nợ có vấn đề.

Theo Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) của Ủy ban chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế, nợ có vấn đề là các khoản nợ không hiệu quả cụ thể đó là các khoản nợ có chứng cứ khách quan cho thấy khả năng tổn thất, phổ biến nhất là phát sinh vấn đề có ảnh hưởng đến dòng tiền trả nợ dự kiến trong tương lai.

Nợ có vấn đề xảy ra khi khoản nợ chưa đến hạn nhưng có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ của khách hàng.

Dấu hiệu nhận biết nợ có vấn đề:

Hoạt động kinh doanh theo chiều hướng xấu do các yếu tố khó khăn của nền kinh tế hoặc do chính sách của nhà nước tác động đến các doanh nghiệp khác cùng nghành nghề.

Khách hàng trả nợ gốc và lãi không đúng thời hạn Hợp đồng tín dụng và thường xuyên thay đổi kỳ hạn hoặc gia hạn nợ.

Người vay cố tình trì hoãn việc nộp các giấy tờ liên quan đến hồ sơ vay. (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

Vốn vay không sử dụng đúng mục đích và khách hàng dựa vào các nguồn trả nợ không thích hợp để trả nợ cho ngân hàng như bán thanh lý tài sản thiết bị, nhà xưởng…

2.4.3. Nợ quá hạn và hệ số nợ quá hạn.

Theo thông tư Số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 do Thống đốc NHNN ban hành Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì “ Khoản nợ quá hạn” được định nghĩa là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và lãi đã quá hạn thanh toán ghi trên hợp đồng tín dụng nhưng khách hàng vẫn chưa hoàn trả cho ngân hàng.

Số dư nợ quá hạn

Tổng dư nợ cho vay

Tỷ lệ nợ quá hạn cao chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng thấp, ngược lại tỷ lệ nợ quá hạn thấp chứng tỏ tín dụng có chất lượng cao nên chỉ tiêu này phản ánh chính xác hơn mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng.

Khả năng thu hồi nợ quá hạn:

NQH có khả năng thu hồi

Nợ quá hạn

Nợ quá hạn bao gồm các nhóm nợ được phân chia theo thời hạn như sau:

  • Nhóm 2 – Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày.
  • Nhóm 3 – Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày.
  • Nhóm 4 – Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày.
  • Nhóm 5 – Nợ quá hạn trên 360 ngà

2.4.4. Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ.

Theo thông tư Số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 do Thống đốc NHNN ban hành Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì khái niệm “Nợ xấu” là những khoản nợ quá hạn từ 90 ngày trở lên mà không đòi được và không được tái cơ cấu và thuộc một trong ba nhóm nợ sau:

Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày.

Nợ gia hạn nợ lần đầu.

Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.

Nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng theo quy định của pháp luật;

Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác trên cơ sở tổ chức tín dụng cho vay nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng nhận vốn góp;

Nợ không có bảo đảm hoặc được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi cấp cho khách hàng thuộc đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định của pháp luật;

Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các tỷ lệ giới hạn theo quy định của pháp luật;

Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được phép vượt giới hạn, theo quy định của pháp luật;

Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối và các tỷ lệ bảo đảm an toàn đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;

Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay, chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;

Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra; (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

Nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:

Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;

Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ cơ cấu lại lần đầu;

Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;

Khoản nợ quy định tại điểm c khoản 1 Điều này quá hạn từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;

Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;

Nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:

Nợ quá hạn trên 360 ngày; (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;

Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn;

Khoản nợ quy định tại điểm c (iv) khoản 1 Điều này quá hạn trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;

Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;

Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản;

Tổng giá trị nợ xấu

Tổng dư nợ cho vay

Tỷ lệ “ Nợ xấu” cho biết cứ 100 đồng tổng dư nợ thì có bao nhiêu đồng là nợ xấu. Nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của ngân hàng đang ở mức rủi ro cao, đó là nguy cơ mất vốn.

2.4.5. Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng.

Dự phòng rủi ro tín dụng cho biết khả năng chi trả của ngân hàng khi xảy ra rủi ro. Khi ngân hàng phải sử dụng quỹ dự phòng nghĩa là ngân hàng đang rơi vào tình trạng rủi ro mất vốn. Các chỉ số thể hiện RRTD:

Dự phòng rủi ro trích lập

Tổng dư nợ kì báo cáo

Nếu một ngân hàng có danh mục cho vay càng rủi ro thì tỷ lệ trích lập dự phòng sẽ càng cao. Tỷ lệ này dao động từ 0% đến 5%.

Nợ khó đòi (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

Dư nợ bình quân

Tỷ lệ này lớn từ 2% trở lên thì chất lượng tín dụng của ngân hàng được xem là có vấn đề.

Số tiền dự phòng cụ thể phải trích đối với từng khách hàng được tính theo công thức sau:

Trong đó:

  • R: Tổng số tiền dự phòng cụ thể phải trích của từng khách hàng;

: là tổng số tiền dự phòng cụ thể của từng khách hàng từ số dư nợ thứ 1 đến thứ n.

Ri: là số tiền dự phòng cụ thể phải trích của từng khách hàng đối với số dư nợ gốc của khoản nợ thứ i. Ri được xác định theo công thức:

Ri = (Ai – Ci) x r

Trong đó:

Ai: Số dư nợ gốc thứ i;

Ci: giá trị khấu trừ của tài sản bảo đảm, tài sản cho thuê tài chính (sau đây gọi chung là tài sản bảo đảm) của khoản nợ thứ i;

r: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể theo nhóm được quy định.

Trường hợp Ci > Ai thì Ri được tính bằng 0.

Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với từng nhóm nợ như sau:

  • Nhóm 1: 0%.
  • Nhóm 2: 5%.
  • Nhóm 3: 20%.
  • Nhóm 4: 50%.
  • Nhóm 5: 100%.

Xem thêm nhiều bài luận văn mẫu khác tại đây:

===> Luận văn thạc sĩ Tài Chính Ngân Hàng

3. Quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

3.1. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng

Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình nhận dạng liên tục, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro tín dụng nhằm tối đa hóa lợi nhuận của ngân hàng với mức rủi ro có thể chấp nhận được quản trị rủi ro bao gồm các nội dung: Nhận diện rủi ro, đo lường rủi ro, kiểm soát rủi ro và tài trợ rủi ro.

3.2. Điều kiện thực hiện mô hình quản lý rủi ro tín dụng.

Hệ thống các NHTM có khả năng áp dụng mô hình quản lí rủi ro tổng thể với các điều kiện sau:

Điều kiện về năng lực tài chính: Mô hình đòi hỏi tiềm lực tài chính mạnh để đầu tư vào hệ thống công nghệ, kiện toàn bộ phận kiểm soát nội bộ của

NHTM, đồng thời thuê kiểm toán bên ngoài và thực hiện niêm yết cổ phiếu công khai trên thị trường.

Điều kiện về công nghệ và hệ thống thông tin quản lý: Ngân hàng cần có nền tảng công nghệ vững chắc, hệ thống dữ liệu hoàn chỉnh và hệ thống thông tin quản lý tập trung để có thể tính toán được rủi ro. Ngoài ra ngân hàng cũng cần có hệ thống thông tin nội bộ cũng như hệ thống báo cáo cho cơ quan giám sát NHTW chính xác, kịp thời.

Điều kiện nhân sự: Đòi hỏi một đội ngũ chuyên gia về quản lý rủi ro, kiểm soát nội bộ có bề dày kinh nghiệm. Hệ thống nhân viên tham gia đo lường rủi ro tín dụng cần am hiểu về hệ thống tài chính, có kiến thức cơ bản và nâng cao về quản trị rủi ro tín dụng, am hiểu các nguyên tắc của Basel nhất là Basel II, có kiến thức về kinh tế lượng. Thêm vào đó, cần tham khảo và tìm sự hỗ trợ của đội ngũ chuyên gia kiểm toán và các cơ quan tư vấn bên ngoài (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

Điều kiện về hệ thống quản trị và tổ chức: Hệ thống quản trị và tổ chức đã được kiện toàn, việc phân cấp ủy quyền minh bạch giữa các bộ phận kiểm tra nội bộ và kiểm soát nội bộ của ngân hàng, tránh sự chồng chéo về chức năng và quyền lực. Trong đó, quyền lực tập trung ở HĐQT, thông tin tập trung tại Hội sở chính.

Điều kiện thị trường: Đòi hỏi một thị trường tài chính phát triển, tiếp cận được các chuẩn mực quốc tế như Basel II. Các chủ thể đều tham gia thị trường một cách bình đẳng với các hoạt động cạnh tranh lành mạnh.

Việc xác định và xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng trong hệ thống NHTM Việt Nam phải được chính bản thân NHTM coi là một quá trình, không tĩnh tại và liên tục phát triển. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, các NHTM quy mô nhỏ, năng lực tài chính yếu, điều kiện về công nghệ và hệ thống quản trị chưa được kiện toàn, chưa đủ điều kiện để áp dụng mô hình này. Bởi vậy, để hướng tới việc áp dụng mô hình, cần có một sự liên kết nhất định với nhau về mặt công nghệ, thông tin và quản trị để đáp ứng các điều kiện vận hành của mô hình.

3.3. Phương pháp quản lý rủi ro tín dụng. (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

Hiện nay công tác quản trị điều hành hoạt động kinh doanh ngân hàng là làm sao để đảm bảo an toàn tín dụng, cải thiện tình hình tài chính và nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại. Để đảm bảo an toàn tín dụng cũng như các kỹ thuật thu thập và xử lý thông tin có thể áp dụng cho các ngân hàng thương mại trong việc kiểm soát tín dụng bằng các phương pháp quản lý giảm thiểu rủi ro tín dụng sau:

Nâng cao chất lượng tín dụng: Phương pháp này được thực hiện chủ yếu qua việc phân tích thẩm định kỹ lưỡng các thông tin tài chính và phi tài chính của khách hàng và áp dụng thủ tục cấp tín dụng chặt chẽ trước khi cho vay nhằm phân loại khoản vay và đối tượng khách hàng cho vay dựa vào mức độ rủi ro tín dụng của khoản vay để quản lý.

Trích lập dự phòng rủi ro: Ngân hàng trích lập ra một khoản dự phòng nhằm bù đắp cho những rủi ro có thể xảy ra căn cứ vào mức độ rủi ro của tài sản có.

Bảo hiểm rủi ro tín dụng: Ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có một khoản chi phí phụ thêm cho việc mua bảo hiểm nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp trong trường hợp phá sản. Chất lượng tín dụng càng cao thì tỷ lệ bảo hiểm rủi ro tín dụng càng thấp, khi rủi ro tín dụng tăng lên, các ngân hàng thương mại sẽ yêu cầu tỷ lệ bảo hiểm tín dụng cao hơn. Việc tăng lên của các khoản bảo hiểm này là cần thiết để bù đắp cho mất mát dự kiến cao hơn về khoản vay vì khả năng khoản vay sẽ không được hoàn trả. Kết quả là mức độ thấp về chất lượng tín dụng có thể làm tăng chi phí vay của nó.

Phân tán rủi ro trong cho vay: Nắm giữ nhiều tài sản có rủi ro hay vì tập trung giữ một hay một số loại tài sản có rủi ro nhất định. Việc phân tán rủi ro tín dụng cho nhiều người vay cho phép các tổ chức tín dụng và các nhà đầu tư giảm rủi ro đối với toàn bộ tài sản có. Tập hợp nhiều loại cho vay với một tài sản của tổ chức tín dụng sẽ làm giảm thu nhập của tài sản. Thu nhập từ các khoản cho vay thành công sẽ bù đắp cho phần lỗ của các khoản vay không thu hồi được nợ. (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

Xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phù hợp với hoạt động kinh doanh, đối tượng khách hàng, tính chất rủi ro của khoản nợ của tổ chức tín dụng.

Thực hiện chính sách quản lý rủi ro tín dụng, mô hình giám sát rủi ro tín dụng, phương pháp xác định và đo lường rủi ro tín dụng có hiệu quả, trong đó bao gồm các hình thức đánh giá về khả năng trả nợ của khách hàng, hợp đồng tín dụng, các tài sản đảm bảo, khả năng thu hồi nợ và quản lý nợ của tổ chức tín dụng.

3.4. Quy trình quản trị rủi ro tín dụng

3.4.1. Nhận dạng rủi ro (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

Ngân hàng phân tích cơ cấu cho vay theo các tiêu thức như thời hạn, khách hàng, phương thức cấp vốn, hình thức tài trợ, và xác định rủi ro cho từng loại hình và khả năng xảy ra rủi ro của từng loại. Nhận dạng rủi ro tín dụng bao gồm các công việc theo dõi rủi ro, xem xét rủi ro, nghiên cứu môi trường hoạt động nhằm thống kê tất cả các rủi ro đã và đang xảy ra, đồng thời dự báo được những dạng rủi ro mới có thể xảy ra cho ngân hàng, trên cơ sở đó tìm ra các giải pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro.

Các phương pháp thường được sử dụng để nhận dạng rủi ro là phân tích các báo cáo, phân tích các hợp đồng vay vốn cụ thể và làm việc trực tiếp với các bộ phận có liên quan khi có rủi ro xảy ra. Nhận dạng rủi ro giúp cho ngân hàng có những giải pháp tối ưu nhằm hạn chế rủi ro xảy ra. Đây là khâu quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu quản trị rủi ro tín dụng và nâng cao kết quả kinh doanh cho ngân hàng. Việc nhận dạng rủi ro là công việc phức tạp do các nguyên nhân dẫn đến rủi ro thường rất đa dạng. Để thực hiện tốt công tác nhận diện rủi ro cán bộ kiểm soát tín dụng cần liệt kê danh sách các dấu hiệu nhận biết rủi ro điển hình để hỗ trợ cho công tác quản trị rủi ro tín dụng, thường có hai nhóm dấu hiệu nhận biết là Nhóm dấu hiệu từ phía khách hàng và nhóm dấu hiệu từ phía ngân hàng.

3.4.2. Đo lường rủi ro và phân tích rủi ro

Việc đo lường rủi ro tín dụng là công việc mà các nhà quản trị ngân hàng cần chú trọng nhiều hơn vì rủi ro khi được đo lường thì việc phòng ngừa rủi ro sẽ dễ dàng và tốt hơn.

Xác định giới hạn rủi ro tín dụng: Giới hạn tín dụng là biên độ cao nhất về khả năng tổn thất có thể xảy ra mà ngân hàng chấp nhận được để đảm bảo hoạt động tín dụng có hiệu quả và ngân hàng kinh doanh có hiệu quả. Trong mục tiêu hoat động kinh doanh tín dụng ngân hàng cần xây dựng giới hạn rủi ro tín dụng phù hợp để đảm bảo mục tiêu phát triển trong kỳ được thực hiện hoàn chỉnh. Giới hạn tín dụng được xây dựng dựa trên thực trạng hoạt động tín dụng, khả năng tài chính và mục tiêu lợi nhuận kế hoạch của mỗi ngân hàng. (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

Phân tích, đo lường rủi ro tín dụng: Đo lường rủi ro tín dụng là việc xây dựng mô hình thích hợp để lượng hóa rủi ro tín dụng của khách hàng. Từ việc đo lường rủi ro xác định được phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối với một khách hàng cũng như để trích lập dự phòng rủi ro. Phân tích, đo lường rủi ro giúp ngân hàng xác định cấp tín dụng cho một khách hàng, định kỳ và đột xuất đánh giá lại rủi ro tín dụng cho toàn bộ danh mục tín dụng. Việc đánh giá, đo lường rủi ro tín dụng giúp ngân hàng ước lượng được mức độ tổn thất có thể xảy ra để phân loại tín dụng làm cơ sở dự phòng tín dụng.

Việc đánh giá, đo lường rủi ro tín dụng thường có hai phương pháp định tính và phương pháp định lượng áp dụng tương đối phổ biến. Hai phương pháp này không bày trừ nhau mà còn hỗ trợ nhau trong việc phân tích, đo lường rủi ro tín dụng. Trong hai phương pháp ngân hàng có thể lựa chọn một trong hai hoặc sử dụng cả hai phương pháp cùng lúc để đánh giá rủi ro.

Phương pháp định tính là phương pháp ngân hàng xây dựng mô hình xếp hạng rủi ro tín dụng dựa trên các thông tin thu thập được, dựa vào các thông tin thu thập được tiến hành phân tích, đo lường rủi ro khách hàng có thể mang đến cho ngân hàng về: năng lực hành vi dân sự, nhu cầu sử dụng vốn vay và các biện pháp bảo đảm cho khoản vay.

Phương pháp định lượng là phương pháp ngân hàng xây dựng hệ thống xếp hạng rủi ro tín dụng dựa trên thang điểm xếp hạng tín dụng của hai nhóm chỉ tiêu: nhóm chỉ tiêu tài chính và nhóm chỉ tiêu phi tài chính và tỷ trọng cho từng nhóm chỉ tiêu thể hiện mức độ quan trọng của các chỉ tiêu. Kết quả khi phân tích các nhóm chỉ tiêu giúp ngân hàng có thể phân loại các nhóm khách hàng khác nhau theo nhiều nhóm và mức độ rủi ro mà khách hàng mang đến khác nhau. Với từng nhóm khách hàng ngân hàng áp dụng các biện pháp khác nhau để giám sát khoản vay phù hợp với mức độ rủi ro được đo lường.

3.4.3. Kiểm soát rủi ro tín dụng (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

Kiểm soát rủi ro tín dụng là sử dụng các biện pháp, các kỹ thuật, công cụ chiến lược nhằm giảm thiểu hoặc né tránh các tổn thất, các ảnh hưởng không mong muốn có thể xảy ra đối với khoản vay. Để kiểm soát rủi ro cần thực hiện các giải pháp sau:

Xây dựng và thi hành các chính sách, công cụ kiểm soát rủi ro tín dụng:

Chính sách tín dụng trở thành hướng dẫn chung cho cán bộ ngân hàng, tạo ra sự thống trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao khả năng sinh lời cho hoạt động kinh doanh tín dụng của ngân hàng. Nội dung chính sách tín dụng hướng đến các vấn đề cơ bản như: Định hướng về giới hạn tăng trưởng tín dụng trong từng giai đoạn, từng nghành, từng lĩnh vực, từng sản phẩm cấp tín dụng, định giá tài sản đảm bảo, phê duyệt cấp tín dụng, hệ thống xếp hạng rủi ro tín dụng, quản lý rủi ro danh mục, quản lý tín dụng và chính sách cho vay khách hàng. Để hoạt động tín dụng của ngân hàng tăng trưởng và phát triển đúng hướng, an toàn, hiệu quả, bền vững và kiểm soát được rủi ro thì ngân hàng phải xây dựng một chính sách tín dụng nhất định, hợp lý và phù hợp với đặc điểm của ngân hàng.

Quy trình tín dụng: Với hoạt động cấp tín dụng ngày càng đa dạng, phong phú và môi trường cạnh tranh càng gay gắt hơn thì hoạt động tín dụng càng tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn. Nên việc đưa ra các biện pháp để kiểm soát và hạn chế rủi ro là cần thiết và một trong những phương pháp quản lý kiểm soát hiệu quả là xây dựng quy trình tín dụng theo một trình tự nhất định kể từ khi khách hàng đề nghị cấp hồ sơ tín dụng cho đến khi tất toán khoản vay. Việc xây dựng quy trình tín dụng hợp lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro tín dụng nhằm giảm thiểu rủi ro và nâng cao lợi nhuận kinh doanh cho ngân hàng.

3.4.4. Tài trợ rủi ro (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

Khi có rủi ro xảy ra ngân hàng phải xác định được những tổn thất về nhân lực, tài sản và giá trị pháp lý. Từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục và xử lý rủi ro, khi có biện pháp xử lý mà vẫn không thu hồi được vốn vay thì ngân hàng phải đưa ra các biện pháp tài trợ rủi ro tín dụng phù hợp để đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng bình thường và cơ cấu nguồn vốn của luôn cân bằng.

Tài trợ rủi ro tín dụng là bù đắp những khoản rủi ro tín dụng xảy ra làm lành mạnh hóa tài chính cho ngân hàng chứ không hoàn toàn xóa bỏ nợ vay cho khách hàng. Đối với khoản nợ vay được tài trợ rủi ro tín dụng ngân hàng vẫn theo dõi cho đến khi thu hồi được nợ. Nguồn vốn để tài trợ rủi ro tín dụng bao gồm: Trích lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng, quỹ dự phòng tài chính, trợ cấp Chính phủ.

Quỹ dự phòng rủi ro được hình thành sau khi phân loại cấp tín dụng dựa trên cơ sở đánh giá mức rủi ro của khoản vay và hạch toán vào chi phí hoạt động của ngân hàng.

Quỹ tài chính được hình thành trên cơ sở tỷ lệ trích lập dự phòng tài chính, được trích lập hàng năm và quỹ này được sử dụng để bù đắp khi quỹ trích lập trong chi phí không đủ để bù đắp tổn thất trong thực tế.

Ngoài các nguồn mà ngân hàng dùng để tài trợ cho rủi ro thì cũng có thể được bù đắp từ khoản trợ cấp của Chính phủ trong những trường hợp xảy ra với nguyên nhân bất khả kháng.

3.5. Lược khảo tài liệu (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

Thời gian hiện nay có rất nhiều nghiên cứu đến họat động quản trị rủi ro của nhiều ngân hàng khác nhau, nhưng với nhiều phương pháp nghiên cứu đa dạng hơn, phong phú hơn để đi sâu vào nghiên cứu tình hình quản trị rủi ro tín dụng tại một ngân hàng cụ thể. Theo cấu trúc mới hoàn thiện hơn nghiên cứu này đã đưa ra được nhiều mặt tích cực cũng như tiêu cực đang tồn tại trong hệ thống ngân hàng, có nhiều giải pháp đề ra để ngân hàng hoàn thiện và phát triển hơn. Gồm các nghiên cứu sau:

Nghiên cứu “Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam” ( Lưu Thị Việt Hoa, 2014) cho thấy được tình hình và công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng. Nghiên cứu sử dụng các mô hình định tính định lượng đo lường rủi ro. Từ đó có các biện pháp áp dụng quản lý rủi ro tốt hơn cho các ngân hàng.

Nghiên cứu “Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng đầu tư và phát triển Tỉnh KonTum” (Phan Thanh Hiền, 2011) các lý luận về rủi ro được tác giả trình bày để vận dụng vào thực tiễn hoạt động quản trị rủi ro tín dụng cho phù hợp với điều kiện, đặc điểm hoạt động của mỗi ngân hàng. Đồng thời, nghiên cứu thực hiện các giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng nhằm góp phần giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng.

Nghiên cứu của tác giả Phạm Kim Yến ( 2011) “Các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng và thực tiễn áp dụng các đó tại chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Huyện Vĩnh Thuận – Kiên Giang” nêu lên các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và đưa ra một số giải pháp để hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng. Tại địa bàn nghiên cứu là nơi tập trung nhiều khách hàng cá nhân chủ yếu ngành nghề là sản xuất nông nghiệp nên việc đưa ra các hạn chế và giải pháp hạn chế rủi ro được chú trọng trong nghiên cứu. (Hoạt Động Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại Là Gì)

Nghiên cứu “Phân tích tình hình tín dụng hộ sản xuất kinh doanh tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Phú Tân tỉnh An Giang” ( Đặng Minh Châu, 2016) nghiên cứu sử dụng phương pháp so sánh số tuyệt đối và số tương đối và mô hình Binary Logistic nhằm xem xét xu hướng biến động tình hình tín dụng hộ sản xuất kinh doanh và đưa ra các giải pháp cho ngân hàng phát triển hơn.

Dựa trên cơ sở lý luận của các nghiên cứu trước, nghiên cứu của tác giả vận dụng các yếu tố thực tế của NHN0&PTNT chi nhánh Vĩnh Thuận Kiên Giang ngoài việc đưa ra các nhận xét về rủi ro và công tác quản trị rủi ro. Trong nghiên cứu có kết hợp phương pháp định tính và định lượng trong mô hình Binary Logistic để ước lượng nhằm tìm hiểu tình hình thực tế ở địa phương để thấy được cuộc sống của người dân có ảnh hưởng đến rủi ro khoản vay. Từ đó, đưa ra các biện pháp để khắc phục rủi ro tín dụng tại ngân hàng.

DOWNLOAD FILE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chat Zalo
Chat Facebook
0932091562