Top 8 Kết luận luận văn quản trị danh mục đầu tư

Rate this post

1. QUẢN TRỊ DANH MỤC ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VIETCOMBANK

KẾT LUẬN

Sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán mở ra một kênh đầu tư mới đầy hấp dẫn nhưng cũng đầy rủi ro cho nhà đầu tư. Cũng từ đó, các vấn đề lý thuyết về đầu tư tài chính và lý thuyết về quản trị danh mục đầu tư tài chính cũng thu hút sự quan tâm của các định chế tài chính, các học giả, các nhà đầu tư Việt Nam. Quản trị DMĐT là một nghiệp vụ vô cùng quan trọng nó không chỉ giúp nhà đầu tư đa dạng hoá danh mục đầu tư của mình mà còn phân tán giảm thiểu rủi ro, tạo ra một nguồn thu nhập đáng kể cho các CTCK mà còn giúp cho thị trường chứng khoán hoạt động một cách hiệu quả hơn.

Với mục tiêu vận dụng lý thuyết quản trị danh mục đầu tư tài chính tại Công ty chứng khoán Vietcombank, học viên đã lựa chọn đề tài “ Quản trị danh mục đầu tư tài chính tại Công ty chứng khoán Vietcombank” làm luận văn tốt nghiệp chương trình cao học tại trường ĐH Ngoại Thương Hà Nội, luận văn đã hoàn thành và giải quyết được những nội dung cơ bản như sau:

Một là: Hệ thống hóa lý thuyết cơ bản liên quan đến quy trình quản trị danh mục đầu tư tài chính. Luận văn đã trình bày cụ thể, chi tiết rõ ràng các khái niệm về đầu tư, khái niệm về đầu tư tài chính, các tài sản tài chính được nhà đầu tư lựa chọn vào danh mục đầu tư. Ngoài ra luận văn phân tích những nhân tố ảnh hưởng tới quyết định đầu tư như rủi ro, lợi suất.

Hai là: Luận văn đã nghiên cứu thực trạng quản trị danh mục đầu tư tài chính tại công ty chứng khoán Vietcombank để trình bày cụ thể, đúng với thực tiễn quản trị danh mục đầu tư đang được áp dụng tại VCBS. Luận văn đã phân tích những mặt tích cực của quy trình quản trị DMĐT, bên cạnh đó cũng đã chỉ ra những nguyên nhân còn tồn tại của quy trình quản trị danh mục đầu tư tài chính tại VCBS.

Ba là: Từ thực tiễn hoạt động đầu tư tài chính tại vcbs, xuất phát từ những tồn tại, yếu kém trong quy trình quản trị danh mục đầu tư tài chính đang triển khai tại VCBS, tác giả đã sử dụng lý thuyết quản trị danh mục đầu tư tài chính hiện đại đang được áp dụng tại các nước phát triển trên thế giới, tác giả xây dựng quy trình quản trị danh mục đầu tư tài chính hoàn chỉnh tại VCBS.

Bốn là: Bên cạnh việc đề xuất biện pháp hoàn thiện quy trình quản trị danh mục đầu tư tài chính tại VCBS tác giả cũng mạnh dạn đề xuất các kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước để tăng hiệu quả hoạt động của Thị trường chứng khoán và hiệu quả của hoạt động đầu tư tài chính.

            Mặc dù đã có nhiều nổ lực trong thực hiện luận văn dưới sự hướng dẫn của PGS-TS.Nguyễn Việt Dũng nhưng do giới hạn về hiểu biết nên luận văn không tránh khỏi những hạn chế  nhất định. Kính mong nhận được sự góp ý chân thành từ các nhà khoa học, thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp. Chân thành cảm ơn!

2. KIỂM ĐỊNH DANH MỤC ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU GIÁ TRỊ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

5.1 Kết luận

Cổ phiếu giá trị và DMĐT giá trị đã được các nhà đầu tư cũng như các học giả nghiên cứu từ rất lâu. Mở đầu về trường phái này có thể kể đến đó là Graham & Dodd (1934). Kết quả nghiên cứu thực nghiệm hầu hết đều cho kết luận rằng DMĐT cổ phiếu giá trị có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với các danh mục khác trên thị trường. Để lựa chọn cổ phiếu giá trị các nhà đầu tư cũng như các nhà nghiên cứu đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như dựa vào chỉ tiêu BM, P/E, tỷ lệ cổ tức trên giá, dòng tiền hoặc phối hợp nhiều chỉ tiêu lại với nhau như sử dụng BM kết hợp với F_Score… đồng thời kết hợp với các chiến lược đầu tư giá trị từ đó thiết lập DMĐT cổ phiếu giá trị. Tuy nhiên hướng nghiên cứu này chưa được phát triển rộng rãi ở Việt Nam. Do vậy, trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu khác trên thế giới, nghiên cứu này tiến hành kiểm định hệu quả của chiến lược đầu tư giá trị cho TTCK Việt Nam thông qua việc kết hợp chỉ tiêu BM điểm số F_Score để lựa chọn và xây dựng DMĐT cổ phiếu giá trị trong giai đoạn từ 2006 đến 2015. Kết quả nghiên cứu cũng là căn cứ để đưa ra gợi ý trong việc áp dụng chiến lược đầu tư giá trị cho các nhà đầu tư trên TTCK Việt Nam.

Kết quả tìm được ở chương 4 đã cho thấy rằng DMĐT cổ phiếu giá trị xác định theo tiêu chí BM, cụ thể danh mục BM cao có TSLN cao hơn danh mục BM thấp và danh mục thị trường. Mặt khác từ những cổ phiếu có BM cao kết hợp với các chỉ tiêu tài chính trong bộ điểm số F_Score nghiên cứu đã chọn được DMĐT cổ phiếu giá trị có TSLN tốt nhất.

TSLN trung bình của danh mục cổ phiếu có BM cao và BM thấp trong giai đoạn nghiên cứu lần lượt là 18.46% và 13.05%. Sau khi đã điều chỉnh so với thị trường TSLN trung bình của hai danh mục này lần lượt là 14.23% và 8.82%. Như vậy DMĐT cổ phiếu có BM cao cao hơn TSLN trung của danh mục BM thấp và danh mục thị trường lần lượt là 5.41%/năm và 14.23%.

Danh mục cổ phiếu giá trị phân theo nhóm điểm số F_Score được xây dựng từ việc chọn lại một lần nữa các cổ phiếu từ nhóm cổ phiếu có BM cao có sự dịch chuyển về TSLN. TSLN trung bình của danh mục F_Score cao, trung bình, thấp trong giai đoạn nghiên cứu lần lượt là 24.16%, 17.06% và 14.65%. Sau khi đã điều chỉnh so với thị trường thì TSLN của các nhóm cổ phiếu này lần lượt là 19.93%, 12.83% và 10.42%. Kết quả này cho thấy có một sự dịch chuyển rõ ràng về TSLN của cổ phiếu từ 18.46% (nhóm cổ phiếu có BM cao) lên 24.16% (nhóm có phiếu có F_Score cao), TSLN trung bình đã tăng thêm 5.7% cho nhóm cổ phiếu có F_Score cao. So với danh mục thị trường TSLN trung bình của nhóm cổ phiếu có F_Score cao cao hơn 19.93%. Ngoài ra chênh lệch TSLN giữa danh mục có điểm số F_score cao so với danh mục có F_Score trung bình và thấp lần lượt là 7.1% và 9.51%.

Kết quả kiểm định thống kê cũng cho thấy TSLN trung bình của của DMĐT cổ phiếu có F_Score cao cao hơn so với danh mục F_Score thấp, các chỉ số p – value và t – value chỉ ra sự khác biệt này hoàn toàn có ý nghĩa thống kê. Tương tự như vậy cho sự khác biệt về TSLN của danh mục F_Score cao với danh mục thị trường và danh mục F_Score trung bình. Từ đó kết luận DMĐT cổ phiếu giá trị được xây dựng theo điểm số F_Score chọn từ nhóm cổ phiếu có BM cao có TSLN cao hơn các danh mục F_Score thấp, F_Score trung bình và danh mục thị trường. Sự khác biệt này hoàn toàn có ý nghĩa về mặt thống kê. Như vậy danh mục có điểm số F_Score cao là danh mục tốt nhất trong các DMĐT nghiên cứu.

Kết quả từ mô hình hồi quy cho thấy có mối tương quan cùng chiều giữa TSLN của cổ phiếu với tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường của cổ phiếu (BM) và điểm số F_Score với mức ý nghĩa cao. Do vậy nhà đầu tư có thể sử dụng chỉ tiêu BM kết hợp với F_Score để lựa chọn các cổ phiếu giá trị tốt nhất. Biến số quán tính giá (moment) có tương quan ngược chiều với TSLN của cổ phiếu với khoảng tin cậy thấp hơn so với BM và F_Score trong khi đó các biến accural và eq_offer không có ý nghĩa thống kê. Ngoài ra những biến động lớn của thị trường cũng ảnh hưởng đến TSLN của các cổ phiếu nghiên cứu.

Việc có thể xây dựng được một DMĐT cổ phiếu giá trị có TSLN vượt trội so với các danh mục khác dựa trên những thông tin BCTC công bố của doanh nghiệp cũng chứng tỏ thị trường chưa phải thực sự hiệu quả ở mức độ trung bình. Giá cổ phiếu chưa phản ánh đầy đủ thông tin mà doanh nghiệp công bố.

Các kết quả nghiên cứu về DMĐT cổ phiếu giá trị xây dựng theo tiêu chí BM và F_Score trên TTCK Việt Nam cũng như các kết quả nghiên cứu khác trên các TTCK phát triển của Piotroski (2000), Mohr (2012) hay ở các quốc gia mới nổi của Hyde (2014) hay của Kang & Ding (2005) ở các quốc gia khu vực Châu Á… đã chỉ ra làm thế nào để chọn ra một DMĐT cổ phiếu giá trị tốt nhất và kiểm chứng ở các thị trường chứng khoán khác nhau. Kết quả nghiên cứu trong luận văn này này là phù hợp và có giá trị trong việc đưa ra một giải pháp đầu tư hiệu quả cho các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới.

3. VẬN DỤNG CÁC MÔ HÌNH ĐỊNH GIÁ DANH MỤC ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

KẾT LUẬN

Với kết quả có được từ việc nghiên cứu trên nền dữ liệu của các cổ phiếu trên hai sàn: sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (từ tháng 7/2003 đến tháng 11/2012) và Hà Nội (từ tháng 7/2008 đến tháng 11/2012), chúng ta có thể thấy các biến giải thích (nhân tố Market, SMB, HML và WML) độc lập với nhau, do đó dữ liệu các nhân tố phù hợp để tiến hành kiểm định theo 3 mô hình: CAPM, 3 nhân tố Fama và 4 nhân tố Carhart. Và với kết quả của kiểm định các mô hình đã chứng minh mô hình 3 nhân tố Fama và mô hình 4 nhân tố Carhart có tính ưu việt hơn mô hình CAPM, điều này được thể hiện qua mức độ giải thích của các mô hình: mô hình 3 nhân tố Fama có mức độ giải thích đạt 91,3% đối với sàn Hồ Chí Minh và 86,5% đối với sàn Hà Nội; mô hình 4 nhân tố Carhart có mức độ giải thích đạt 91,4% đối với sàn Hồ Chí Minh và 88,6% đối với sàn Hà Nội; trong khi đó, mô hình CAPM có mức độ giải thích chỉ đạt 79,6% đối với sàn Hồ Chí Minh và 79,7% đối với sàn Hà Nội. Ngoài ra, trong hai mô hình Fama và Carhart các nhân tố Market, SMB và HML có ý nghĩa thống kê cao trên cả hai sàn giao dịch; còn nhân tố WML chỉ có ý nghĩa thống kê cao đối với sàn Hà Nội, điều này cho thấy mức độ quán tính giá trên sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội cao hơn so với sàn Hồ Chí Minh (nguyên nhân có thể là do tính ổn định trong giao dịch của sàn Hồ Chí Minh được đánh giá là cao hơn sàn Hà Nội). Qua đó, chúng ta có thể kết luận: mô hình 3 nhân tố Fama giải thích tốt nhất trên sàn giao dịch thành phố Hồ Chí Minh, trong khi đó mô hình 4 nhân tố Carhart giải thích tốt nhất trên sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội.

Đối với mức độ định giá tài sản, kết quả nghiên cứu về tung độ gốc ai đã cho thấy các tài sản gần như được định giá đúng theo cả 3 mô hình đối với sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, trong đó mô hình Fama và Carhart thể hiện tốt hơn; trong khi đó việc định giá đúng các tài sản theo 3 mô hình trên sàn Hà Nội còn hạn chế.

  • Những hạn chế của việc nghiên cứu các mô hình định giá tài sản

Hạn chế khách quan

Thị trường chứng khoán Việt Nam mới đi vào hoạt động chỉ hơn 12 năm, quá non trẻ so với các thị trường khác trên thế giới như Mỹ, Nhật…, đồng thời tính công bố thông tin trên thị trường Việt Nam còn thấp nên bài nghiên cứu chỉ được thực hiện trong chuỗi thời gian thấp (113 tháng đối với sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và 53 tháng đối với sàn Hà Nội). Chính vì chuỗi thời gian quan sát ngắn, các kết quả thu được chưa thể đại diện cho toàn bộ thị trường và phản ánh đúng ảnh hưởng của các nhân tố lên tỷ suất sinh lợi chứng khoán.

Các mô hình đã đưa ra, cũng như bất kỳ mô hình dự báo nào khác, chỉ hoạt động hiệu quả cao trong điều kiện thông tin cân xứng, nhà đầu tư có thông tin như nhau. Do đó một hạn chế trong quá trình xây dựng mô hình trên thị trường Việt Nam là yếu tố thông tin bất cân xứng, từ đó có thể có những bóp méo cho mô hình khi mà nhà đầu tư phản ứng khác nhau do thông tin nhận được là khác nhau và không cùng lúc.

Hạn chế chủ quan

Hạn chế chủ quan xuất phát từ bản thân người tiến hành nghiên cứu các mô hình định giá. Do các công cụ tính toán còn thiếu và thị trường chứng khoán Việt Nam thiếu một bộ cơ sở dữ liệu chung cho toàn thị trường nên đa số dữ liệu trong bài nghiên cứu đều được xử lý thủ công. Quá trình xử lý dữ liệu do con người tiến hành nên có thể xảy ra sai sót.

  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:

Luận văn chỉ mới tiến hành nghiên cứu kiểm định một cách tổng quan theo 3 mô hình định giá tài sản (mô hình CAPM, mô hình 3 nhân tố Fama và mô hình 4 nhân tố Carhart), chưa đi sâu nghiên cứu các chi tiết cụ thể; đồng thời việc phân loại thiết lập biến phụ thuộc (LHS) trong phép hồi quy định giá tài sản theo 3 danh mục đầu tư (MkC S, MkC N và MkC B) còn đơn giản, chưa thể thể hiện hết các loại tính chất của cổ phiếu. Do những yếu tố hạn chế sau: Thời gian thực hiện đề tài này chưa đủ đáp ứng để nghiên cứu vấn đề trên quy mô lớn; Lượng kiến thức và kinh nghiệm của một cá nhân chưa đủ để đi sâu nghiên cứu vấn đề này.

Những hướng có thể nghiên cứu tiếp theo:

  • Nghiên cứu thêm các mô hình định giá danh mục đầu tư khác ngoài 3 mô hình CAPM, Fama và Carhart trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
  • Mở rộng việc phân loại danh mục đầu tư để biến phụ thuộc (LHS) trong phép hồi quy được đa dạng hóa, từ đó chúng ta sẽ có những kết luận chính xác hơn về các mô hình định giá đối với các loại cổ phiếu.
  • Nghiên cứu việc ứng dụng các mô hình định giá danh mục đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam với mục đích thiết lập chiến lược đầu tư thích hợp trong thực tế.

4. ỨNG DỤNG MÔ HÌNH VaR ĐỂ ĐO LƯỜNG RỦI RO DANH MỤC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CHO DANH MỤC ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Kết luận

Trong những năm gần đây, vai trò của quản trị rủi ro ngày càng trở nên quan trọng khi chúng ta đã nhận ra những tác hại tiềm ẩn của rủi ro. Các mô hình tài chính, mô hình đo lường rủi ro ra đời ngày càng nhiều như là một hệ quả tất yếu của quá trình phát triển. Các nước trên thế giới đã và đang ứng dụng thường xuyên những mô hình này. Điều này được xem là một phần thiết yếu trong công tác quản trị rủi ro bởi muốn quản trị rủi ro trước hết chúng ta phải định lượng được nó để có thể giám sát một cách cẩn thận, từ đó đề ra các biện pháp giảm thiểu thiệt hại khi rủi ro xảy ra. Ở Việt Nam, có rất ít các nghiên cứu về việc ứng dụng mô hình VaR để đo lường rủi ro danh mục đầu tư trên TTCK Việt Nam. Nghiên cứu của Võ Hồng Đức và Huỳnh Long Phi (2015) được xem như là nghiên cứu tiên phong trong việc ước lượng VaR 1 ngày của chỉ số chứng khoán VN-Index và HNX – Index trên TTCK Việt Nam. Ngoài ra, nghiên cứu của Lê Phan Thị Diệu Thảo và Nguyễn Thanh Phú (2015) đánh giá và xếp hạng các mô hình kinh tế lượng trên thế giới trong việc ước lượng VaR trên danh mục đầu tư thị trường đại diện cho thị trường mới nổi và thị trường phát triển không bao gồm Việt Nam. Những nghiên cứu tương tự cho nhóm cổ phiếu NHTM niêm yết tại Việt Nam hầu như là chưa có.

Trong thời gian vừa qua, lý do chính khiến nhóm cổ phiếu ngân hàng chưa được các nhà đầu tư quan tâm một phần do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến chỉ số chứng khoán sụt giảm, gây tâm lý e ngại cho các nhà đầu tư. Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu vẫn nằm ở các vấn đề nội tại của ngành. Giai đoạn 2013-2015, ngành ngân hàng đã có nhiều thay đổi với các hoạt động mua bán sáp nhập. Đồng thời, một số ngân hàng kinh doanh yếu kém đã làm ảnh hưởng đến tâm lý các nhà đầu tư khi muốn lựa chọn đầu tư vào nhóm cổ phiếu ngân hàng. Những vấn đề này đang được kỳ vọng có thể giải quyết triệt để trong thời gian tới, khi quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng đạt được những bước tiến cần thiết. Đặc biệt, kinh tế vĩ mô cải thiện tích cực sẽ hỗ trợ đáng kể cho nhóm cổ phiếu ngân hàng. Theo nhận định của một số chuyên gia, trong thời gian tới có thể xảy ra hiện tượng phân hóa mạnh tại nhóm blue chip, trong đó nhóm cổ phiếu ngân hàng sẽ nổi lên như một ứng cử viên sáng giá bởi có không ít ưu thế như vốn hóa thị trường đủ lớn để chi phối chỉ số thị trường và tác động lớn đến các nhóm cổ phiếu còn lại. Ngoài ra, ngành ngân hàng liên tục nhận được các thông tin chính sách hỗ trợ tích cực trong bối cảnh hoạt động tái cơ cấu hệ thống ngân hàng được đẩy mạnh (Trần Minh Hoàng, Thời báo ngân hàng). Do đó, việc cung cấp một công cụ để đo lường rủi ro danh mục đầu tư giúp cho các nhà đầu tư, các nhà quản trị rủi ro có thêm thông tin để ra quyết định đầu tư hoặc kiểm soát rủi ro từ danh mục mà mình đang nắm giữ là vô cùng cần thiết. Từ những nghiên cứu tiền đề, luận văn đã đi sâu vào việc ứng dụng mô hình VaR để đo lường rủi ro danh mục đầu tư cho nhóm cổ phiếu NHTM niêm yết trên TTCK Việt Nam.

Luận văn đã nghiên cứu, đánh giá chất lượng dự báo của mô hình ước lượng giá trị rủi ro VaR được áp dụng cho danh mục đầu tư nhóm cổ phiếu NHTM niêm yết tại Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng ước lượng phương sai thay đổi GARCH(1,1) với giả định chuỗi tỷ suất lợi nhuận có phân phối chuẩn để ước lượng VaR 1 ngày của danh mục đầu tư trên lần lượt ở các mức rủi ro 5%, 2.5%, 15, 0.5% và 0.1% với mẫu dữ liệu giá cổ phiếu thu thập trong giai đoạn 2006-2016 của 9 ngân hàng TMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam. Trong nghiên cứu này, việc đưa ra giá trị khoản lỗ tối đa khi nhà đầu tư nắm giữ danh mục theo các mức rủi ro kỳ vọng sẽ giúp cho các nhà tài chính cân đối giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng, đưa ra quyết định có nên nắm giữ tiếp danh mục hay không.

Kết quả kiểm định cho thấy ở giai đoạn nghiên cứu, chuỗi tỷ suất lợi nhuận của danh mục đầu tư không tuân theo quy luật phân phối chuẩn. Nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng mô hình VaR với ước lượng GARCH(1,1) thực hiện tốt nhất ở mức rủi ro 2.5% và tiếp sau đó là ở mức 5%. Ở các mức rủi ro thấp hơn như 1%, 0.5% và 0.1%, kết quả cho thấy ước lượng VaR không nhạy cảm so với sự biến động của thị trường. Nguyên nhân một phần do kết quả phân tích từ mô hình đo lường rủi ro VaR với giả thiết chuỗi tỷ suất lợi nhuận có phân phối chuẩn là chưa phù hợp với kiểm định Jarque Bera thực tế và dẫn đến kết quả ước lượng có thể sai lệch, chưa mang tính chính xác cao. Ngoài ra, kích cỡ mẫu có ảnh hưởng đến tính chính xác của ước lượng. Với cùng một mô hình ước lượng phương sai thay đổi GARCH(1,1) khi ước lượng VaR, nhìn chung, tỷ lệ vi phạm VaR của danh mục đầu tư sẽ giảm khi kích cỡ mẫu quan sát tăng lên và ngược lại. Đồng thời, nghiên cứu chỉ ra rằng giả định phân phối xác suất của chuỗi tỷ suất lợi nhuận sẽ ảnh hưởng đến kết quả ước lượng VaR, với một giả định phân phối phù hợp sẽ nâng cao chất lượng dự báo của mô hình.

VaR cũng như bất cứ mô mô hình tài chính nào đều tồn tại trong mình những giá trị và hạn chế đáng chú ý. Đứng trên góc độ quản trị rủi ro, chúng ta cần nhận biết giá trị cũng như giới hạn của mỗi mô hình hay kết hợp nhiều phương pháp định tính định lượng để thu được những thông tin có giá trị. Tuy còn nhiều tranh cãi nhưng với những hiệu quả nhất định mang lại, đến thời điểm hiện tại, VaR vẫn là một mô hình ước lượng rủi ro được nhiều nhà đầu tư tài chính trên thế giới nghiên cứu và sử dụng. Với kết quả nghiên cứu trên, mặc dù còn nhiều vấn đề cần được cải thiện hơn, nhìn chung luận văn cũng đã có những đóng góp chính sau đây:

VaR là mô hình đo lường rủi ro mặc dù đã được ứng dụng rộng rãi tại các nước phát triển và đang phát triển trên thế giới nhưng vẫn còn khá mới mẻ và chưa được ứng dụng rộng rãi tại Việt Nam. Nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về rủi ro, mô hình giá trị rủi ro (VaR) cũng như các phương pháp ước lượng mô hình. Ngoài ra, luận văn cũng đã tổng quan được các nghiên cứu của nhiều tác giả ứng dụng mô hình VaR định lượng rủi ro trên thị trường chứng khoán trên thế giới và của Việt Nam. Mặc dù còn hạn chế về mặt số liệu và quá trình tính toán, tuy nhiên trong giới hạn cho phép, nghiên cứu đã xây dựng được các bước ứng dụng mô hình VaR và ước lượng GARCH(1,1) để tính toán rủi ro danh mục đầu tư nhóm cổ phiếu các NHTM niêm yết tại Việt Nam. Từ đó, nghiên cứu cung cấp thông tin dự báo mức độ sụt giảm tối đa của chuỗi tỷ suất lợi nhuận khi nhà đầu tư nắm giữ danh mục này. Trong tình hình các ngân hàng thương mại Việt Nam có nhiều biến động như hiện nay: mua bán, sáp nhập, bị NHNN kiểm soát đặc biệt…thì việc cung cấp một công cụ đo lường rủi ro sẽ giúp cho các nhà đầu tư nói riêng và các nhà quản trị rủi ro nói chung ra quyết định đầu tư và có phương án phòng ngừa là hết sức quan trọng. Vì vậy, bài luận văn có ý nghĩa thực tiễn áp dụng cao.

Cuối cùng, từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm và kiểm định sự phù hợp của mô hình VaR, luận văn sẽ phân tích những hạn chế của mô hình đồng thời đưa ra những đề xuất để các nghiên cứu sau phát triển hơn, áp dụng dễ dàng hơn và dự báo rủi ro thực tế chính xác hơn.

5. ỨNG DỤNG CÁC MÔ HÌNH ĐỊNH GIÁ QUYỀN CHỌN VÀO VIỆC PHÒNG NGỪA RỦI RO CHO DANH MỤC ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

KẾT LUẬN ĐỀ TÀI

Công cụ phái sinh như quyền chọn là một công cụ mạnh nhằm quản trị rủi ro cho các giao dịch và đầu tư trong thị trường hàng hóa và tài chính. Việc triển khai thị trường chứng khoán phái sinh ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa thực hiện được do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Tuy nhiên, việc tìm hiểu sâu và vận dụng các mô hình định giá quyền chọn như mô hình Nhị Phân, mô hình Black – Scholes sẽ cung cấp cho chúng ta các công cụ hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro cho các tài sản đầu tư của chính mình.

Đề tài đã khảo sát các công thức định giá quyền chọn và tình hình thực hiện quyền chọn ở Việt Nam hiện nay. Đề tài cũng đã đưa ra giải pháp cho việc phòng ngừa rủi ro phù hợp với điều kiện khách quan ở Việt Nam bằng cách áp dụng mô hình Black

– Scholes trong việc lập ra chương trình quản trị rủi ro ứng dụng chạy bằng phần mềm Excel của Microsoft.

Việc thực hiện bằng các kiểm nghiệm thực tế thông qua giá các cổ phiếu đang niêm yết trên TTCK Việt Nam đã đưa ra các kết quả khả quan và có thể ứng dụng mô hình quản trị rủi ro này trong việc phòng ngừa rủi ro cho một danh mục đầu tư. Tuy nhiên, để áp dụng mô hình này trong thực tế đòi hỏi nhà quản trị phải thấu hiểu hết các biến động của thị trường, các giải pháp phòng ngừa rủi ro và kết hợp các giải pháp này lại nhằm tạo ra một chiến lược phòng ngừa hoàn hảo nhất cho mình. Mô hình chỉ là công cụ, việc thực hiện thực tế sao cho có lợi nhuận và bảo toàn vốn đầu tư là một công việc hết sức khó khăn và phức tạp mà không phải bất kỳ ai cũng làm được. Quản trị rủi ro là cả một nghệ thuật mà chỉ có một vài nhà quản trị tài ba mới đủ bản lĩnh thực hiện trong thị trường đầy biến động, đầy các yếu tố gây rủi ro như TTCK Việt Nam, một thị trường mới nổi đầy tiềm năng nhưng cũng đầy bất trắc. Để có thể vận dụng mô hình nêu trên vào thực tiễn thì phải hoàn thiện được TTCKPS và đưa nó vào vận hành, việc hoàn thiện này sẽ được giải quyết tuân theo các giải pháp đã nêu ra như trên.

Do sự hạn chế về kinh nghiệm, hạn chế về kiến thức thực tế áp dụng quyền chọn cũng như thời gian nghiên cứu, đề tài sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết và thiếu sót. Tác giả mong nhận được sự chỉ dẫn, đóng góp của Quý thầy cô, các đọc giả, các nhà nghiên cứu… để có thể chỉnh sửa và hoàn thiện các nghiên cứu sau này được tốt hơn.

6. NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

PHẦN KẾT LUẬN

TTCK Việt Nam vẫn đang trên đà hội nhập và phát triển, ưu tiên hàng đầu trong quá trình đi lên của TTCK là đảm bảo chất lượng và tính đa dạng của hàng hóa nhằm thu hút sự tham gia đầu tư của nhiều cá nhân và tổ chức ngày càng chuyên nghiệp đầu tư vào thị trường.

Mặc dù TTCK đã mở ra nhiều cơ hội cho nhà đầu tư, tuy nhiên những trải nghiệm trong thời gian qua cho thấy đây thực sự là một sân chơi khắc nghiệt. Dù Nhà đầu tư cá nhân hay tổ chức cũng rất cần sự giúp đỡ từ các nhà chuyên môn hiểu biết xâu sắc về thị trường chứng khoán và có phương pháp quản lý hiệu quả các danh mục đầu tư. Đây không đơn giản là chuyện thắng thua một vài phi vụ đầu tư cổ phiếu mà nhà đâu tư cần những phương pháp và chiến lược đầu tư có hệ thống, cần xây dựng kế hoạch đầu tư một cách khoa học và phù hợp. Với mục tiêu tìm kiếm các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý danh mục đầu tư tại TTCK Việt Nam, luận văn đã đạt được một số kết quả nghiên cứu chủ yếu như sau :

  • Trình bày những vấn đề cơ bản về quản lý danh mục đầu tư chứng khoán. Quan điểm đầu tư theo danh mục, các lý thuyết về quản lý danh mục đầu tư hiệu quả.
  • Tập trung nghiên cứu lý thuyết về QLDMĐT của Markowitz nhằm ứng dụng công cụ này vào hoạt động QLDMĐT tại TTCK Việt Nam.
  • Đánh giá thực trạng thị trường chứng khoán Việt nam đồng thời phân tích thực trạng hoạt động quản lý danh mục đầu tư của các QĐT và công ty QLQ trên thị trường chứng khoán Việt nam, qua đó đánh giá được thực trạng đầu tư theo danh mục trên thị trường chứng khoán Việt nam trong thời gian qua.
  • Tập trung đề ra các nhóm giả pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý danh mục đầu tư cho các QĐT nói riêng và nhóm giải pháp bổ trợ phát triển TTCK nói chung.

Đầu tư trên thị trường chứng khoán, lợi nhuận và rủi ro luôn luôn tồn tại song song không thể tách rời. Với các biện pháp nâng cao hiệu quả các hoạt động đầu tư theo danh mục sẽ đem lại cho các nhà đầu tư những lợi ích đáng kể: mang lại lợi nhuận tối đa khi thị trường phát triển hoặc ít nhất có thể bảo toàn được vốn (Hay giảm tối thiểu rủi ro) khi thị trường lao dốc. Đây cũng là điều kiện tiên quyết giúp các công ty QLQ, các QĐT có thể tồn tại và có cơ hội phát triển trên TTCK Việt nam.

7. ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH HIỆN ĐẠI TRONG QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

KẾT LUẬN

Các lý thuyết đầu tư tài chính hiện đại cũng như quản lý Danh mục đầu tư không phải là vấn đề nghiên cứu mới trên thế giới, nhưng nó vẫn còn là vấn đề tương đối mới tại Việt Nam đặc biệt là khi áp dụng và triển khai vào Thị trường chứng khoán của Việt Nam. Do đó, việc tìm hiểu nghiên cứu các lý thuyết đầu tư tài chính hiện đại cho chúng ta một cái nhìn bao quát hơn về Lý thuyết danh mục đầu tư CAPM, APT và những công cụ đo lường rủi ro, Tỷ suất sinh lợi của chứng khoán cũng như của Danh mục đầu tư một cách hiệu quả nhất.

Một Danh mục đầu tư hiệu quả khi đạt được Tỷ suất sinh lợi cao nhất đối với cùng một mức rủi ro hay đạt được rủi ro thấp nhất với cùng mức Tỷ suất sinh lợi. Nhà đầu tư luôn mong muốn tối đa hóa lợi nhuận và tối thiểu hóa rủi ro. Lợi nhuận và rủi ro luôn luôn song hành với nhau, vì vậy cần phải xem xét và phân tích cụ thể hơn mối quan hệ giữa hai mặt này.

Các lý thuyết đầu tư tài chính hiện đại được trình bày trong đề tài là những kiến thức cơ bản nhưng đã được vận dụng một cách có hiệu quả trên các Thị trường chứng khoán khắp thế giới. Vì vậy, khi Việt Nam từng bước vai trò của mình trên thế giới đồng nghĩa với thị trường vốn ngày càng mở và thông thoáng hơn thì việc áp hiểu và áp dụng các lý thuyết này thực sự là rất cần thiết.

Nhìn lại quá trình hoạt động của Thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian vừa qua và những rủi ro mà nhà đầu tư phải gánh chịu, chúng ta càng thấy việc ứng dụng beta vào phân tích đầu tư chứng khoán thật sự cần thiết. Tuy nhiên, do Thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế và bất cập nên làm cho nhận thức và việc sử dụng hệ số beta của các nhà đầu tư trở nên rất khó khăn..

Tuy nhiên, chúng ta cũng không phủ nhận tầm quan trọng của các lý thuyết đầu tư tài chính hiện đại này. Do đó, để các lý thuyết này đi vào nhận thức của mỗi một nhà đầu tư trên Thị trường chứng khoán là một công việc cần phải thực hiện một cách có hệ thống và kiên trì. Nhưng về lâu dài, để quản lý tốt mối quan hệ giữa Tỷ suất sinh lợi và rủi ro trên Thị trường chứng khoán Việt Nam, các nhà đầu tư sẽ biết cách ứng dụng các lý thuyết trên một cách hiệu quả nhất, từ đó tìm cho mình một Danh mục đầu tư tối ưu nhất.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chat Zalo
Chat Facebook
0932091562