Khái niệm nợ xấu, Nguyên nhân nợ xấu với Ngân Hàng Thương Mại

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Khái niệm nợ xấu, Nguyên nhân nợ xấu với Ngân Hàng Thương Mại là gì? Để làm một bài thạc sĩ về hoạt động tín dụng thì chắc chắn phải có khái niệm, vai trò và đặc điểm. Luanvanpanda hiểu được những gì các bạn học viên ngành tài chính ngân hàng đang cần, cho nên luanvanpanda chia sẻ đến các bạn học viên ngành tài chính ngân hàng những Khái niệm nợ xấu, Nguyên nhân nợ xấu với Ngân Hàng Thương Mại, giúp cho các bạn học viên hoàn thiện bài luận văn của mình được tốt hơn.

CHÚ Ý: Ngoài ra, còn rất nhiều đề tài luận văn thạc sĩ về quản lý nợ xấu, được luanvanpanda tổng hợp về vấn đề này các bạn có thể bấm tại đây: 

=====>>>  Luận Văn Thạc Sĩ Về Quản Lý Nợ Xấu

1. Khái niệm cơ bản về nợ xấu của Ngân Hàng Thương Mại

Do đặc trưng của hoạt động tín dụng liên quan đến tiền tệ, do đó chắc chắn sẽ xảy ra rủi ro liên quan đến nợ xấu.“Nợ xấu chính là các khoản tiền mà NHTM cho KH vay nhưng khi đến kỳ hạn thu hồi nợ lại không thể đòi được do các yếu tố chủ quan từ chính phía KH hoặc do các nguyên nhân khách quan bên ngoài tác động vào.”

Nợ xấu càng cao thì rủi ro và tổn thất dòng vốn của các NHTM càng lớn. Bên cạnh đấy, NHTM lại phải trích một khoản chi phí dự phòng rủi ro cho nợ xấu, điều này ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM. Trên thế giới có nhiều quan điểm về nợ xấu như:

Theo quan điểm của Ngân Hàng Thương Mại trung ương Châu Âu (ECB)

  • “Nợ xấu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi hoặc có thể không được thu hồi đầy đủ cho NHTM, gồm:
  • – Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ người mắc nợ
  • – Người mắc nợ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ, những khoản nợ mà  NHTM không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ.
  • – Những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ.
  • – Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưng phần còn lại không thể được đền bù, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản được chuyển để thanh toán nhưng giá trị còn lại không đủ trang trải toàn bộ nợ.
  • – Những khoản nợ mà người mắc nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu gia hạn nợ nhưng không đền bù được nợ trong thời gian thoả thuận.
  • – Những khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để trả nợ hoặc tài sản thế chấp ở NHTM không được chấp thuận về mặt pháp lý dẫn đến người mắc nợ không thể trả nợ NHTM đầy đủ.
  • – Những khoản nợ mà tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phần bồi hoàn ít hơn dư nợ.

Như vậy, theo quan điểm của NHTM Trung ương Châu Âu ECB, thì nợ xấu được định nghĩa qua hai yếu tố: khoản vay không có khả năng được thu hồi, và mặc dù được thu hồi nhưng giá trị thu hồi là không đầy đủ. Quan điểm này được tiếp cận dựa trên kết quả thu hồi nợ của NHTM.”

Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)

Định nghĩa về nợ xấu đã được Quỹ tiền tệ quốc tế IMF đưa ra như sau: “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ”.Với quan điểm này, nợ xấu được tiếp cận dựa trên thời gian quá hạn trả nợ và khả năng trả nợ của KH. Khả năng trả nợ của KH ở đây có thể là toàn bộ số gốc và lãi hoặc một phần gốc và lãi.

Nợ xấu theo quan điểm của Việt Nam

Theo Khoản 8 Điều 3 của Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro của NHNN Việt Nam thì: Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Trong đó:

  • – Nợ nhóm 3: thời gian quá hạn từ 90 – 180 ngày.
  • – Nợ nhóm 4: thời gian quá hạn từ 181 – 360 ngày.
  • – Nợ nhóm 5: thời gian quá hạn trên 360 ngày.

Như vậy, nợ xấu theo quan điểm của NHNN Việt Nam cũng được xác định dựa trên hai yếu tố: đã quá hạn trên 90 ngày hoặc khả năng trả nợ đáng lo ngại. Tuy nhiên, việc các NHTM tiếp cận theo yếu tố nào là phụ thuộc vào khả năng và điều kiện tiến hành phân loại nợ.”

“Với những quan điểm trên thì quan điểm về nợ xấu phải được tiếp cận dựa vào khả năng trả nợ của KH. Có nghĩa là một khoản cho vay trong hạn nhưng có các dấu hiệu chứng tỏ rằng khả năng trả nợ của khoản vay là đáng nghi ngờ thì cũng có thể coi là một khoản nợ xấu, cần phải xử lý.”[19]

2. Phân loại nợ xấu của Ngân Hàng Thương Mại

– Phân loại nợ chủ yếu dựa trên thời gian quá hạn: nợ xấu có 3 nhóm

  • + Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): thời gian quá hạn từ 90 – 180 ngày.
  • + Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): thời gian quá hạn từ 181 – 360 ngày.
  • + Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): thời gian quá hạn trên 360 ngày.
  • – Phân loại nợ chủ yếu dựa trên khả năng trả nợ của KH:
  • + Nhóm 3: Các khoản nợ được TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.
  • + Nhóm 4: Các khoản nợ được TCTD đánh giá là khả năng tổn thất cao
  • + Nhóm 5: Các khoản nợ được TCTD đánh giá là không còn có khả năng thu hồi, chấp nhận mất vốn.”

3. Nguyên nhân hình thành nên nợ xấu của Ngân Hàng Thương Mại

Nợ xấu xảy ra do nhiều nguyên nhân, có thể là nguyên nhân chủ quan hoặc nguyên nhân khách quan sau đây:

Thứ nhất, nguyên nhân từ phía Khách Hàng:

+ KH làm giả giấy tờ như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, đăng ký xe ô tô, xác nhận thu nhập khống…để thực hiện hành vi gian lận trong khi vay vốn NHTM. Khi NHTM không phát hiện ra mà vẫn tiến hành cho vay dẫn tới nợ xấu xảy ra.

+ Tâm lý nhiều KH khi đi vay vốn chỉ muốn trả lãi, hàng tháng còn gốc để cuối kỳ để xoay vòng gốc, vì vậy NHTM sẽ không giám sát được nguồn thu nhập thường xuyên của KH, hết 12 tháng lại đáo hạn, dẫn đến KH không có kế hoạch trả nợ gốc cụ thể mà phụ thuộc vào thời điểm đáo hạn, có thể đến lúc đáo hạn không đủ tiền dẫn đến quá hạn NHTM.

+ KH đứng tên vay vốn nhưng thực tế chuyển vốn cho người khác sử dụng (vay hộ, vay ké). Người sử dụng vốn không có khả năng trả nợ còn người vay thì không muốn chịu trách nhiệm đối với khoản vay trên. Đây thực chất là việc sử dụng tiền vay sai mục đích, sai đối tượng nhưng vẫn còn xảy ra phổ biến trong việc cấp tín dụng của NHTM. Hoặc người vay có địa bàn xa điểm giao dịch NHTM, bận rộn kinh doanh, nhờ người khác đi trả nợ gốc, lãi thay nhưng thực tế những người này lại không nộp tiền cho NHTM, KH không đòi lại được nên cũng ảnh hưởng đến nguồn trả nợ NHTM.

+ Do nhận thức, trình độ còn nhiều hạn chế của KH, thường ỷ lại vào các chương trình hỗ trợ  vay ưu đãi của Nhà nước nên cố tình sử dụng vốn sai mục đích dẫn đến khó khăn về tài chính không có khả năng trả nợ.

+ Những biến động lớn về thời tiết, khí hậu, dịch bệnh, chương trình, chính sách, nguồn nguyên liệu đầu vào cũng như đầu ra của KH gây ảnh hưởng tới hoạt động SXKD của cá nhân, tổ chức, DN, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Do chính sách kinh tế, định hướng ngành nghề thay đổi, do biến động xấu của thị trường và giá cả, tất cả điều này đã gây ảnh hưởng không tốt đến nguồn tài chính, làm giảm khả năng trả nợ của KH.

+ Do KH hoặc người thân của KH bị tai nạn, ốm đau, bệnh tật kéo dài, ảnh hưởng khả năng lao động, hoạt động SXKD dẫn đến nguồn tài chính và kế hoạch trả nợ của KH không đúng như cam kết.

Thứ hai, nguyên nhân từ phía các Ngân Hàng Thương Mại:

+ Do thông tin bất cân xứng: Ngoài những thông tin do KH cung cấp, cán bộ tín dụng không có nhiều kênh thông tin khác về KH, mà thông tin do KH cung cấp lại rất khó được kiểm chứng. Dẫn tới tình trạng NHTM không có thông tin đầy đủ về KH, đưa ra những phán quyết tín dụng  thiếu căn cứ, dẫn đến khả năng không thu hồi được khoản nợ cao.

+ Sự phối hợp và liên kết thông tin giữa NHTM với các cơ quan chính quyền, cơ quan nhà nước như Uỷ ban nhân dân các cấp, cơ quan Thuế, Hải quan, Kiểm toán,… để  xác minh những thông tin do KH cung cấp chưa được tốt.

+ Công tác kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau khi cấp tín dụng còn yếu kém như công tác thẩm định trước khi cấp tín dụng còn sơ sài, CBTD chưa tìm hiểu kỹ về tình hình tài chính, kinh doanh, phương án sử dụng vốn vay… của KH dẫn đến việc đưa ra những quyết định thiếu chính xác. Công tác rà soát trong và sau khi cấp tín dụng chưa được chú trọng, dẫn đến không phát hiện kịp thời những khó khăn của KH ngay từ khi bắt đầu có dấu hiệu.

Thứ ba, nguyên nhân:

Từ môi trường kinh tế chính trị như sự biến động bất thường của nền kinh tế, chính trị; môi trường pháp lý ảnh hưởng đến hoạt động của NHTM.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chat Zalo
Chat Facebook
0932091562