Top 8 Lời mở đâu luận văn quản trị danh mục đầu tư

Rate this post

Tải miễn phí mẫu Top 8 Lời mở đầu luận văn quản trị danh mục đầu tư tại ngân hàng cho các bạn đang làm luận văn thạc sĩ ngành Tài Chính Ngân Hàng, còn rất nhiều nội dung tham khảo về đề tài quản trị danh mục đầu tư, các bạn có thể tham khảo tại các bài viết tiếp theo của Luận văn Panda.

Lưu ý: Trong quá trình làm đề tài luận văn thạc sĩ Tài Chính Ngân Hàng, nếu các bạn không có thời gian làm bài, hay những khó khăn khác có thể liên hệ với Dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ của bên mình để được hỗ trợ làm bài qua.

SĐT/ZALO: 0932.091.562

1. QUẢN TRỊ DANH MỤC ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VIETCOMBANK

LỜI MỞ ĐẦU

  1. Tính cấp thiết của đề tài: (Lời mở đầu luận văn quản trị danh mục đầu tư)

Ngày nay hoạt động đầu tư tài chính đã phát triển thành một dịch vụ chuyên nghiệp chính trên thế giới.Bắt đầu từ thế kỷ 21, sau cuộc cách mạng công nghiệp quản trị đầu tư trở thành một phần quan trọng trong số các dịch vụ tài chính ở hầu hết các nước phát triển.Thị trường tài chính Việt Nam hiện đang trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển vươn lên, tuy nhiên không vì thế mà hoạt động đầu tư kém phát triển.

Cùng với sự phát triển của Thị trường chứng khoán Việt Nam, hoạt động đầu tư tài chính được mở rộng,các CTCK,  NHTM cùng với các Quỹ đầu tư đang tập trung phát triển mạnh mảng đầu tư tài chính. Để tăng hiệu quả của quá trình đầu tư tài chính đòi hỏi phải có một hệ thống quản trị đầu tư tốt. Do đó việc xây dựng hệ thống quản trị đầu tư tài chính trở thành vấn đề cấp thiết đối với các chủ thể tham gia đầu tư nói chung với VCBS nói riêng. Dù đã có những đề tài nghiên cứu về quản trị DMĐT tài chính ở các định chế tài chính, tuy nhiên các biện pháp còn khá chung chung và lỗi thời, đồng thời cũng chưa có đề tài nào tập trung nghiên cứu về hệ thống quản trị DMĐT tài chính tại VCBS nhằm đưa ra những giải pháp phù hợp. Xuất phát từ quan điểm đó, tôi lựa chọn đề tài “Quản trị DMĐT tài chính tại công ty chứng khoán Vietcombank” để tìm hiểu và giải quyết vấn đề trên.

2.. Tình hình nghiên cứu

Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại đã được nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khá phổ biến trên thế giới ở cả giác độ lý thuyết lẫn thực nghiệm. Từ sau công trình lựa chọn danh mục đầu tư của Harry Markowitz năm 1952 rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến đến lĩnh vực này đã được thực hiện. Trong phần tổng quan nghiên cứu này, học viên chỉ tổng hợp những công trình nghiên cứu điển hình trên các lĩnh vực: lý thuyết danh mục đầu tư tài chính; Lý thuyết quản trị danh mục đầu tư hiện đại; đánh giá hiệu quả danh mục đầu tư. Đây là những vấn đề có liên quan trực tiếp đến nội dung nghiên cứu trong luận án của nghiên cứu sinh.

Xem Thêm quy trình và bảng giá tại đây:

===> Dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ

DOWNLOAD FILE

2. KIỂM ĐỊNH DANH MỤC ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU GIÁ TRỊ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM (Lời mở đầu luận văn quản trị danh mục đầu tư)

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1.1      Bối cảnh nghiên cứu và tính cấp thiết của đề tài

Thị trường chứng khoán (TTCK) không chỉ là kênh huy động vốn của doanh nghiệp mà đây còn là kênh để các nhà đầu tư tham gia đầu tư nguồn vốn nhàn rỗi nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Tuy vậy, không phải bất kì nhà đầu tư nào tham gia cũng có thể chiến thắng được thị trường. Việc một nhà đầu tư thua lỗ là điều khó tránh khỏi. Do đó, để có thể đầu tư hiệu quả, một kĩ năng quan trọng mà các nhà đầu tư phải có đó là phải biết lựa chọn cổ phiếu và xây dựng một danh mục đầu tư (DMĐT) phù hợp với chiến lược và khả năng của mình. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển và ứng dụng của các kĩ thuật phân tích cơ bản, phân tích kĩ thuật… nhà đầu tư có thể áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để lựa chọn cổ phiếu vào danh mục đầu tư của mình.

Đối với quan điểm đầu tư dựa trên phân tích cơ bản, một trong những phương pháp để nhà đầu tư lựa chọn cổ phiếu đó là đầu tư cổ phiếu tăng trưởng (Growth Stock) hoặc cổ phiếu giá trị (Value Stock) dựa trên những tiêu chí nhất định. Cổ phiếu tăng trưởng là những cổ phiếu đang được thị trường đánh giá cao về mặt giá trị và được kì vọng sẽ mang lại lợi nhuận cao trong tương lai. Trong thực tế, một số công ty trong giai đoạn tăng trưởng nhanh thường sử dụng lợi nhuận giữ lại để tiếp tục mở rộng kinh doanh. Các nhà đầu tư kì vọng sẽ thu được lợi nhuận cao trong tương lai khi doanh nghiệp phát triển, kéo theo giá cổ phiếu tăng, từ đó làm giá trị của khoản đầu tư cũng tăng theo. Tuy nhiên, nhiều khi do sự kì vọng quá mức vào sự tăng trưởng đối với loại cổ phiếu này, thị trường có xu hướng định giá loại cổ phiếu này cao hơn giá trị hợp lí. Cổ phiếu giá trị được hiểu là những cổ phiếu đang bị thị trường định giá dưới giá trị hợp lí của nó (Fair Value), hay nói cách khác cổ phiếu giá trị là những cổ phiếu đang bị định giá thấp hơn so với tiềm năng tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận. Một khi thị trường nhận ra “sai lầm” trong việc định giá, giá cổ phiếu sẽ tăng trưởng trở lại về với giá trị hợp lý của nó. Nhờ đó nhà đầu tư sẽ thu được lợi nhuận từ việc đầu tư vào các cổ phiếu giá trị này.

Để xác định cổ phiếu giá trị có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Nghiên cứu đầu tiên về cổ phiếu giá trị được Graham & Dodd (1934) đề cập đến trong quyển “Phân tích chứng khoán” trong đó tác giả đã sử dụng chỉ tiêu P/E – thị giá trên thu nhập mỗi cổ phần, P/B – thị giá trên giá trị sổ sách của cổ phiếu hoặc BM – giá trị sổ sách trên giá trị thị trường, đây là chỉ tiêu nghịch đảo của P/B. Bên cạnh đó, các chỉ tiêu như P/CFO – thị giá trên dòng tiền hoạt động, P/S – giá trên doanh thu, tỷ lệ cổ tức trên thị giá cũng được sử dụng để xác định cổ phiếu giá trị. (Lời mở đầu luận văn quản trị danh mục đầu tư)

Ngoài cách tiếp cận trên, Piotroski (2000) sau khi chọn ra nhóm cổ phiếu có BM cao, kết hợp công cụ phân tích cơ bản bằng cách sử dụng thông tin từ BCTC để xác định 9 tín hiệu tài chính, từ đó hình thành điểm số F_Score trong việc lựa chọn cổ phiếu giá trị. Dựa trên nghiên cứu của Piotroski, Mohanram (2005), Kang & Ding (2005), Tantipanichkul & Supattarakul (2010), Mohr (2012), Galdi & Lopes (2013), Hyde (2014),… đã xây dựng danh mục đầu tư cổ phiếu giá trị trên Thị trường chứng khoán một số quốc gia bao gồm các thị trường phát triển như Châu Âu, các thị trường mới phát triển như Thái Lan, Đài Loan, Malyasia, Braxin…

Tóm lại, nghiên cứu về danh mục đầu tư cổ phiếu giá trị và TSLN của danh mục đầu tư cổ phiếu giá trị đã được nhiều tác giả nghiên cứu ở các Thị trường chứng khoán khác nhau. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra danh mục đầu tư cổ phiếu giá trị có TSLN cao hơn so với các danh mục đầu tư khác, cụ thể là danh mục đầu tư cổ phiếu tăng trưởng hay danh mục thị trường. Các nghiên cứu này tập trung xây dựng danh mục đầu tư cổ phiếu giá trị bằng nhiều phương pháp khác nhau trong đó sử dụng chỉ số P/E, P/B và F_Score là khá phổ biến. Tuy nhiên, nghiên cứu về cổ phiếu giá trị và danh mục đầu tư cổ phiếu giá trị ở Việt Nam vẫn còn khá hạn chế.

Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời và phát triển đến nay đã hơn 15 năm, số lượng các doanh nghiệp niêm yết ngày càng gia tăng về số lượng lẫn quy mô. Tính đến cuối năm 2014 đã có tất cả 672 doanh nghiệp niêm yết trong đó có 307 doanh nghiệp niêm yết ở Sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh – HoSE và 365 doanh nghiệp niêm yết ở Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội – HNX1). Số lượng doanh nghiệp niêm yết ngày càng nhiều tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư có thêm nhiều cơ hội để lựa chọn cổ phiếu từ đó xây dựng danh mục đầu tư hiệu quả.

Trong bối cảnh Thị trường chứng khoán Việt Nam đang ngày càng phát triển về số lượng doanh nghiệp lẫn quy mô niêm yết. Sự quan tâm và tham gia của các nhà đầu tư cá nhân cũng như tổ chức cũng tăng lên cho thấy sự hấp dẫn ngày càng lớn của thị trường. Nghiên cứu của Phạm Hữu Hồng Thái và Nguyễn Vũ Hồng Phượng (2015) về đầu tư giá trị trên Thị trường chứng khoán Việt Nam mặc dù đã chỉ ra hiệu quả của danh mục đầu tư cổ phiếu giá trị tuy nhiên vẫn còn một số mặt hạn chế về thời gian nghiên cứu cũng như tiêu chí về phương pháp xây dựng danh mục đầu tư cổ phiếu giá trị. Do vậy, việc mở rộng các nghiên cứu thực nghiệm, kiểm chứng hiệu quả của danh mục đầu tư cổ phiếu giá trị trên Thị trường chứng khoán Việt Nam bằng các phương pháp tiếp cận khác để khắc phục một số hạn chế của các nghiên cứu trước, từ đó đưa ra một số gợi về áp dụng phương pháp đầu tư giá trị ở Việt Nam thực sự là một nghiên cứu phù hợp, cần thiết và có giá trị thực tiễn cao.

Xem nhiều lời mở đầu tại đây:

===> Lời mở đầu trong luận văn thạc sĩ

DOWNLOAD FILE

3. VẬN DỤNG CÁC MÔ HÌNH ĐỊNH GIÁ DANH MỤC ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LỜI MỞ ĐẦU

  1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu (Lời mở đầu luận văn quản trị danh mục đầu tư)

Ngày nay đối với các quốc gia có nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường thì vai trò của thị trường chứng khoán là vô cùng quan trọng. Thị trường chứng khoán là kênh thu hút các nguồn vốn đầu tư nhàn rỗi trong nền kinh tế, chuyển tải vốn cho nền kinh tế, và là hàn thử biểu để đo sức khỏe của nền kinh tế.

Đã có nhiều nghiên cứu phân tích nguyên nhân tác động đến thị trường chứng khoán trong đó có ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế, các biến động của kinh tế thế giới, thị trường bất động sản, lãi suất và các rào cản tác động đến thị trường tài chính của Chính phủ,… Trong đó một nguyên nhân quan trọng không thể phủ nhận là kiến thức và tâm lý của nhà đầu tư. Khi một nhà đầu tư thiếu kiến thức về đầu tư chứng khoán, một mặt sẽ thấy lúng túng trước những thông tin và báo cáo của các công ty công bố cũng như thông tin về thị trường, mặt khác sẽ càng lúng túng hơn khi đọc các báo cáo, dự báo, dự đoán của các tổ chức tài chính lớn trên thế giới nhận định về thị trường chứng khoán Việt Nam. Có bao giờ chúng ta tự hỏi vì sao từ những công trình nghiên cứu khoa học, từ những lý thuyết đã được công bố trên thế giới mà chúng ta không thể ứng dụng để đưa ra những nhận định và dự báo mà chỉ dựa vào những báo cáo của các tổ chức tài chính nước ngoài. Từ đâu mà họ có được những dự báo, dự đoán như vậy và mức độ tin cậy của các dự báo ấy tới đâu. Trên thực tế đã có không ít nhà đầu tư phải trả giá cho sự quá tin cậy vào các bản báo cáo này.

Trên thế giới cũng đã có những nghiên cứu về các mô hình đầu tư tài chính như CAPM, Fama – French, Carhart trên nhiều thị trường chứng khoán, đặc biệt là các thị trường chứng khoán mới nổi đã cho những kết quả có ý nghĩa vô cùng thiết thực. Điều đó càng khẳng định thêm tính đúng đắn và tính thực nghiệm của các mô hình này.

Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức đi vào hoạt động từ tháng 07/2000. Qua hơn mười năm, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể. Từ con số hai mã chứng khoán niêm yết ban đầu vào ngày 28/07/2000, cho đến nay tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đã có 308 loại cổ phiếu, 6 loại chứng chỉ quỹ và 41 loại trái phiếu; tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội có 396 loại cổ phiếu và 441 loại trái phiếu. (Lời mở đầu luận văn quản trị danh mục đầu tư)

Tuy nhiên, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về các nhân tố tác động lên tỉ suất sinh lợi của chứng khoán, do đó nhà đầu tư chưa có một nhận định đúng về rủi ro tương ứng với tỉ suất sinh lợi của chứng khoán. Do vậy việc nghiên cứu về các mô hình như CAPM, Fama – French, Carhart… đối với thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là một việc hết sức quan trọng và cấp thiết. Do giới hạn của một bài nghiên cứu, luận văn chỉ giới thiệu về mô hình CAPM, mô hình ba nhân tố Fama – French và mô hình bốn nhân tố Carhart áp dụng đối với một số thị trường trên thế giới để vận dụng đối với thị trường chứng khoán Việt Nam.

DOWNLOAD FILE

4. ỨNG DỤNG MÔ HÌNH VaR ĐỂ ĐO LƯỜNG RỦI RO DANH MỤC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CHO DANH MỤC ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM (Lời mở đầu luận văn quản trị danh mục đầu tư)

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Rủi ro luôn luôn tồn tại khách quan trong tất cả các hoạt động kinh tế, chúng ta không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro mà chỉ có thể kiểm soát chúng. Quản trị rủi ro là sự kết hợp giữa việc áp dụng các chính sách kinh tế và sử dụng các công cụ để đo lường rủi ro và các tổn thất do rủi ro mang lại. Đây được xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của các nền kinh tế để hoạt động ổn định, tránh những tổn thương do những biến động, cú sốc kinh tế tạo ra.

Lịch sử nền kinh tế thế giới đã chứng kiến nhiều sự đổ vỡ của các tổ chức và định chế tài chính lớn, phải kể đến như: sự sụp đổ thị trường chứng khoán phố Wall năm 1929, sự sụp đổ thị trường chứng khoán Paris năm 1882, cuộc khủng hoảng Đông Nam Á năm 1997 bắt nguồn từ Thái Lan hay cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008-2009. Một trong những nguyên nhân chung của các cuộc khủng hoảng là thị trường tài chính thiếu vắng các công cụ để quản lý và đo lường rủi ro hiệu quả. (Lời mở đầu luận văn quản trị danh mục đầu tư)

Mô hình giá trị rủi ro (VaR) ra đời vào cuối những năm 1980 và được các định chế tài chính lớn phát triển, sử dụng phổ biến đầu những năm 1990. VaR được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết xác suất thống kê và những phương pháp đo lường rủi ro từ nhiều thế kỷ trước đó. Với những ưu điểm nổi trội, VaR nhanh chóng trở thành công cụ để các định chế tài chính và phi tài chính các nước trên thế lựa chọn để đo lường rủi ro danh mục đầu tư. Từ năm 1994, với sự ra đời của RiskMetric, một gói sản phẩm ứng dụng VaR mang thương hiệu của một công ty tách ra từ JPMorgan Chase, VaR đã được áp dụng rộng rãi và trở thành một tiêu chuẩn trong việc đo lường và giám sát rủi ro tài chính trên toàn thế giới. Vai trò của VaR cũng được nhấn mạnh hơn vào năm 1996 khi Ủy ban giám sát ngân hàng Basel cho phép các định chế tài chính và phi tài chính có thể tính toán các yêu cầu về vốn dựa trên các mô hình VaR nội bộ. Tuy những cơ sở khoa học đầu tiên của VaR được hình thành trong môi trường ngân hàng nhưng sự phát triển của VaR lại được thăng hoa thông qua việc sử dụng VaR của các định chế tài chính chuyên nghiệp để quản trị rủi ro danh mục đầu tư cho hoạt động đầu tư của họ. Trên thế giới, có rất nhiều nghiên cứu ứng dụng mô hình VaR để đo lường rủi ro danh mục đầu tư tại các quốc gia phát triển và đang phát triển nhằm mục đích quản trị rủi ro cho các danh mục hiện có. Trong khi đó tại Việt Nam, mô hình VaR chưa được ứng dụng phổ biến cũng như những nghiên cứu ứng dụng VaR để đo lường rủi ro danh mục đầu tư cho Thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn khá hạn chế. Trong một nghiên cứu gần đây, Võ Hồng Đức và Huỳnh Long Phi (2015) đã tiên phong trong việc ứng dụng 12 mô hình ước lượng phương sai thay đổi để ước lượng VaR – 1 ngày của chỉ số VN-Index và HNX-Index ở các mức rủi ro được nghiên cứu trên Thị trường chứng khoán Việt Nam.

Tại Thị trường chứng khoán Việt Nam, nhóm cổ phiếu ngân hàng từng là nhóm cổ phiếu có mức thanh khoản cao trên thị trường. Tuy nhiên, những năm gần đây, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã bộc lộ nhiều điểm yếu khi nợ xấu và rủi ro tín dụng gia tăng, đồng thời tỷ suất lợi nhuận khi đầu tư vào nhóm cổ phiếu các NHTM vẫn ở mức thấp, chưa đúng kỳ vọng của các nhà đầu tư. Điều này trở thành nỗi lo của không ít cổ đông đang nắm giữ và những nhà đầu tư đang có ý định nắm giữ cổ phiếu ngân hàng. Tuy nhiên kì vọng vào nhóm cổ phiếu ngân hàng trong thời gian tới là rất lớn khi mà hiệu quả của chính sách vĩ mô đang được phát huy và nền kinh tế đang dần phục hồi. Chính vì lý do trên đã thúc đẩy nhu cầu cấp bách cần có một công cụ định lượng rủi ro nhóm cổ phiếu NHTM niêm yết tại Việt Nam và VaR là công cụ lựa chọn hàng đầu của các tổ chức đầu tư trong và ngoài nước hiện nay. Trong bối cảnh các nghiên cứu về mô hình VaR ở nước ta hiện nay còn rất ít, đề tài “Ứng dụng mô hình VaR để đo lường rủi ro danh mục nghiên cứu thực nghiệm cho danh mục đầu tư cổ phiếu các Ngân hàng thương mại Việt Nam” giúp các nhà đầu tư có thêm một công cụ hữu ích trong việc ra quyết định đầu tư hay quản lý, giám sát danh mục đầu tư của mình một cách có hiệu quả hơn.

Xem thêm nhiều đề cương chi tiết trong luận văn tại đây:

===> Đề cương chi tiết trong luận văn

DOWNLOAD FILE

5. NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

  • PHẦN MỞ ĐẦU
  • Tính cấp thiết của đề tài. (Lời mở đầu luận văn quản trị danh mục đầu tư)

Kể từ khi ra đời, thị trường chứng khoán Việt nam đã trở thành một kênh đầu tư hết sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Bên cạnh những nhà đầu tư chuyên nghiệp là các tổ chức đầu tư trong và ngoài nước còn có sự tham gia đông đảo của nhà đầu tư cá nhân trong nước với các hoạt động đầu tư chứng khoán sôi nổi mà phần nào đóng vai trò như là một lực thị trường áp đảo trong các giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tuy nhiên, hoạt động đầu tư theo cảm tính, theo tin đồn, thiếu chuyên nghiệp, mang nặng tính đầu cơ và hầu như không theo một phương pháp đầu tư khoa học, hiệu quả nào của các nhà đầu tư cá nhân này đã tác động xấu đến kết quả đầu tư của chính họ và sự phát triển lành mạnh và ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian vừa qua.

Để “nâng cao hiệu quả“ hay nói cách khác để tăng lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động đầu tư, các nhà đầu tư cá nhân rất cần có sự hỗ trợ về kiến thức, kinh nghiệm, và các kỹ năng phân tích, đánh giá thị trường cũng như quản lý danh mục đầu tư của mình. Ngoài ra các nhà đầu tư cá nhân với số tiền ít ỏi cũng có thể gia tăng hiệu quả đầu tư bằng cách ủy thác đầu tư qua các công ty QLQ hoặc đầu tư thông qua các các CCQ của các Quỹ đầu tư. Về mặt bản chất của việc mua CCQ giống như việc mua một danh mục đầu tư, hoặc NĐT bỏ tiền để công ty quản lý quỹ đầu tư hộ. Lẽ đương nhiên danh mục này có hiệu quả, có khả năng sinh lợi, mới có thể hấp dẫn NĐT. Tuy nhiên trong những năm vừa qua quỹ đầu tư đồng loạt bị thua lỗ. Riêng trong nửa đầu năm 2012, TTCK dù đã hồi phục nhưng vẫn còn những khó khăn cho các quỹ. Tại những thời điểm khó khăn nhất, có những quỹ rao bán CCQ của mình với giá chỉ bằng 15-20% giá trị tài sản ròng (NAV). Điều này làm cho nhiều người tỏ ra hoài nghi về hiệu quả đầu tư theo danh mục mà các QĐT và công ty QLQ đang hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt nam trong thời gian qua và câu hỏi đặt ra là “liệu có cách nào để nâng cao được hiệu quả đầu tư theo danh mục trên thị trường chứng khoán Việt nam? Và đây là câu hỏi đã gợi ý tác giả chọn đề tài “ Nâng cao hiệu quả quản lý danh mục đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt nam” làm vấn đề nghiên cứu cho luận văn của mình.

DOWNLOAD FILE

6. ỨNG DỤNG CÁC MÔ HÌNH ĐỊNH GIÁ QUYỀN CHỌN VÀO VIỆC PHÒNG NGỪA RỦI RO CHO DANH MỤC ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM (Lời mở đầu luận văn quản trị danh mục đầu tư)

  1. Lý do chọn đề tài

Thị trường chứng khoán (TTCK) là nơi thu hút vốn đầu tư gián tiếp và cũng là nơi cung cấp vốn đầu tư cho nền kinh tế, cụ thể là cho các công ty có cổ phiếu niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán. TTCK Việt Nam hiện đang còn non trẻ, chỉ hoạt động trong khoảng 10 năm, đang có những bước tiến bộ trong quá trình thành lập và phát triển, đã tạo ra những cơ hội hội nhập cho nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế khu vực và quốc tế. Tuy vậy, việc vận hành và hoạt động đầu tư còn manh mún, thông tin bất cân xứng, chưa cho phép bán khống, giao dịch của các tổ chức và các nhà đầu tư lớn chưa được kiểm soát kỹ… khiến cho rủi ro đầu tư vào cổ phiếu là rất lớn.

Bên cạnh đó, việc Chính phủ chưa cho phép vận hành thị trường chứng khoán phái sinh nhằm cung cấp một công cụ tài chính bảo vệ cho các nhà đầu tư càng làm cho rủi ro đầu tư vào TTCK càng lớn. Việc chậm đưa các công cụ phái sinh vào vận hành do nhiều lý do khách quan và chủ quan đã làm cho nhiều nhà đầu tư bị thua lỗ nặng trong năm khủng hoảng 2008. Vì vậy, nhà đầu tư đang rất cần các công cụ hữu ích nhằm hạn chế bớt rủi ro và bảo vệ thành quả đầu tư của mình. Đây là một vấn đề lớn luôn thách thức và làm đau đầu các cấp quản lý nhà nước cũng như các nhà cung cấp dịch vụ cho thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay.

Bằng việc xem xét các quyền chọn và dùng mô hình Nhị Phân, mô hình Black – Scholes để định giá quyền chọn, từ đó xây dựng được một mô hình tương tự như quyền chọn để bảo vệ thành quả đầu tư của mình. Việc lập mô hình quyền chọn để phòng ngừa rủi ro cho danh mục đầu tư không mới, nhưng nó sẽ mở ra một cách giải quyết vấn đề phòng ngừa rủi ro nữa cho các nhà đầu tư trong bối cảnh của TTCK Việt Nam hiện nay. Đây chính là lý do tôi chọn đề tài “Ứng dụng các mô hình định giá quyền chọn vào việc phòng ngừa rủi ro cho danh mục đầu tư chứng khoán”.

Xem thêm nhiều bài luận văn mẫu khác tại đây:

===> Luận văn thạc sĩ Tài Chính Ngân Hàng

DOWNLOAD FILE

7. ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH HIỆN ĐẠI TRONG QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LỜI MỞ ĐẦU

  1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI. (Lời mở đầu luận văn quản trị danh mục đầu tư)

Chặng đường hơn 11 năm phát triển của Thị trường chứng khoán Việt Nam với biết bao thăng trầm, có lúc đầu tư trên Thị trường chứng khoán là thắng lớn, quan trọng là mua mã nào để gia tăng lợi nhuận nhanh hơn mà thôi, đôi lúc nhà đầu tư phải nếm trái đắng với những khoản thua lỗ nặng nề, “cháy tài khoản”. Có đi đến trực tiếp các sàn giao dịch thì mới thấy hết được các cung bậc cảm xúc của thị trường. Tham vọng làm giàu nhanh chóng trong khi không được hậu thuẫn bởi nển tảng kiến thức đã đưa nhà đầu tư đối mặt với muôn vàn rủi ro.

Đối với Thị trường chứng khoán Việt Nam, nhà đầu tư chưa nhận biết hết các rủi ro mà mình phải gánh chịu khi tham gia vào Thị trường chứng khoán. Bởi lẽ việc xác định rủi ro cũng như tìm lời giải cho câu hỏi: “Làm thế nào để đầu tư hiệu quả?” quả thật không phải là điều dễ dàng.

Lợi nhuận và rủi luôn là hai mặt tồn tại song hành với nhau, lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn và ngược lại. Do đó khi đầu tư trên Thị trường chứng khoán, nhà đầu tư cần phải hiểu rõ và phân tích kỹ lưỡng mối quan hệ giữa rủi ro và Tỷ suất sinh lợi để đặt ra những mục tiêu thích hợp cho bản thân mỗi nhà đầu tư. Và hệ số beta là một trong những công cụ hữu ích được sử dụng để đánh giá mối quan hệ này. Hệ số này dựa trên nền tảng các lý thuyết tài chính hiện đại như: Lý thuyết danh mục đầu tư của Harry Markowitz, Mô hình định giá tài sản vốn – CAPM của William Sharpe và Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá – APT của Stephen Ross. Khi đã hiểu được các lý thuyết này, nhà đầu tư có thể tự thiết lập riêng cho mình một Danh mục đầu tư phù hợp với khẩu vị rủi ro của bản thân.

Chính vì lẽ đó, tác giả muốn thông qua đề tài “ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH HIỆN ĐẠI TRONG QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ TRÊN TTCK VIỆT NAM” nhằm giúp cho nhà đầu tư Việt Nam kế thừa những lý thuyết và các công cụ để phòng ngừa rủi ro một cách có hiệu quả. Từ đó, mỗi nhà đầu tư có thể vận dụng một cách linh hoạt để hướng cho mình một lối đi riêng phù hợp.

DOWNLOAD FILE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chat Zalo
Chat Facebook
0932091562