Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản trị bán hàng

Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản trị bán hàng, nội dung bài viết này tập trung các công thức nhằm đánh giá hiệu quản các công tác quản trị bán hàng, những nội dung này rất hữu ích cho các bạn sử dụng làm cơ sở lý luận trong bài luận văn về quản trị bán hàng.

CHÚ Ý: Ngoài ra, còn rất nhiều đề tài luận văn thạc sĩ về quản trị bán hàng khác, được luanvanpanda tổng hợp về vấn đề này các bạn có thể bấm tại đây:

=============>>>> Luận văn thạc sĩ về quản trị bán hàng

1.1. Doanh thu bán hàng

Doanh thu bán hàng: Là số tiền mà doanh nghiệp thu được từ hoạt động bán hàng theo hóa đơn, bao gồm toàn bộ số tiền mặt thu được và các khoản phải thu từ khách hàng mua chịu hàng hóa. Doanh thu phụ thuộc vào sự biến động của hai yếu tố như số lượng và giá bán (TS. Nguyễn Thị Xuân Hương, 1998) và doanh thu được xác định bằng công thức:

Doanh thu bán hàng

=

Số lượng hàng bán ra

x

Giá bán trung bình

Doanh thu thuần: Là khoảng chênh lệch giữa tổng doanh thu theo hóa đơn với các khoản giảm trừ như chiết khấu bán hàng, giảm giá bán, hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu phải nộp và được xác định bằng công thức:

Doanh thu thuần = Tổng doanh thu theo

hóa đơn

Chiết khấu

bán hàng

Giảm

giá hàng đã bán

Hàng

bị

trả lại

Thuế tiêu thụ

đặc biệt,

thuế xuất khẩu

1.2. Lợi nhuận bán hàng

Lợi nhuận gộp về bán hàng và tỷ lệ lãi gộp

– Lợi nhuận gộp về bán hàng: Là khoảng chênh lệch giữa doanh thu thuần với trị giá hàng đã bán. Lợi nhuận gộp được sử dụng để bù đắp các chi phí hoạt động, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh và được xác định bằng công thức:

Lợi nhuận gộp về bán hàng = Doanh thu thuần Trị giá hàng đã bán

– Tỷ lệ lãi gộp: Được tính trên cơ sở lấy tổng lợi nhuận gộp về bán hàng hoặc doanh thu chia cho giá vốn hàng bán. Tỷ lệ này càng cao có nghĩa hoạt động bán càng hiệu quả, đóng góp nhiều cho doanh nghiệp và được xác định bằng công thức:

Tỷ lệ lãi gộp = Tổng lợi nhuận gộp về bán hàng hoặc Doanh thu
Giá vốn hàng bán Giá vốn hàng bán

Lợi nhuận thuần từ kết quả hoạt động kinh doanh: Đây là khoảng chênh lệch giữa lợi nhuận gộp về bán hàng với chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp của số hàng đã bán. Lợi nhuận chịu sự ảnh h­ưởng của nhiều yếu tố nh­ư doanh thu, các khoản giảm trừ, chi phí về bán hàng, giá vốn hàng bán và quản lý bán hàng và được xác định bằng công thức:

Lợi nhuận thuần từ kết quả hoạt động kinh doanh = Lợi nhuận gộp về

bán hàng

Chi phí

bán hàng của

số hàng đã bán

Chi phí quản lý DN của số hàng đã bán

– Chi phí bán hàng: Là toàn bộ chi phí cần thiết liên quan đến quá trình tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ. Các yếu tố thuộc chi phí bán hàng bao gồm chi phí vận chuyển bốc dỡ hàng hóa, phân loại, đóng gói, bao bì, thuê kho bãi trong quá trình bán hàng và trả lương cho nhân viên bán (TS. Nguyễn Thị Xuân Hương, 1998).

1.3. Thị phần bán hàng của doanh nghiệp

Thị phần bán hàng là phần thị trường tiêu thụ sản phẩm mà doanh nghiệp chiếm giữ. Được tính trên cơ sở lấy doanh số bán hàng của doanh nghiệp chia cho tổng sản phẩm tiêu thụ của thị trường hoặc số sản phẩm bán ra của doanh nghiệp chia cho tổng sản phẩm tiêu thụ của thị trường và được xác định bằng công thức:

Thị phần

bán hàng

= Doanh số bán hàng của DN hoặc Số sản phẩm bán ra của DN
Tổng doanh số của thị trường Tổng sản phẩm tiêu thụ thị trường

Thị phần bán hàng thể hiện phần sản phẩm tiêu thụ riêng của doanh nghiệp so với tổng sản phẩm tiêu thụ trên thị trường. Trong kinh doanh, để giành giật mục tiêu thị phần bán hàng trước đối thủ, doanh nghiệp phải có chính sách giá phù hợp thông qua mức giảm giá cần thiết, nhất là khi bắt đầu thâm nhập vào thị trường mới. Khi mọi yếu tố khác tương đối ổn định thì việc gia tăng thêm thị phần bán hàng cũng thể hiện hiệu quả của hoạt động bán hàng được nâng cao. Thị phần bán hàng càng cao chứng tỏ năng lực doanh nghiệp càng mạnh, chiếm lĩnh khu vực thị trường lớn (TS. Nguyễn Thị Xuân Hương, 1998).

1.4. Năng suất lao động bán hàng

Năng suất lao động trong doanh nghiệp là mức tiêu thụ hóa hàng bình quân của một nhân viên bán hàng trong một đơn vị thời gian. Tăng năng suất lao động trong doanh nghiệp là tăng mức tiêu thụ hàng hóa bình quân của một nhân viên bán hàng trong một đơn vị thời gian hoặc giảm thời gian lao động cần thiết để thực hiện một đơn vị giá trị hàng hóa tiêu thụ và được đo bằng công thức:

Năng suất lao động bình quân

của nhân viên bán hàng

= Tổng doanh thu bán hàng
Tổng số nhân viên bán hàng

Tăng năng suất lao động luôn gắn liền với giảm hao phí lao động, giảm giá thành sản xuất kinh doanh. Việc tăng năng suất lao động có ý nghĩa rất quan trọng trong doanh nghiệp, vì nó gắn liền với mở rộng tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp, tạo điều kiện phục vụ tốt cho khách hàng, rút ngắn thời gian hàng hóa dừng trong khâu lưu thông, thúc đẩy nhanh quá trình tái sản xuất, tiết kiệm hao phí lao động, chi phí và tăng tích luỹ cho doanh nghiệp, xã hội, cải thiện đời sống người lao động.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chat Zalo
Chat Facebook
0932091562