Năng Lực Cạnh Tranh? Lợi Thế Cạnh Tranh?

Rate this post

Khái Niệm Năng Lực Cạnh Tranh Là Gì? Lợi Thế Cạnh Tranh Là Gì? Và Tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh là gì? Nội dung được chia sẻ bao gồm những khái niệm và tầm quan trọng của năng lực cạnh tranh. Ngoài ra, còn rất nhiều những khái niệm về năng lực cạnh tranh, các bạn có thể tham khảo tại đây.

Mong là với bài viết chia sẻ dưới đây sẽ giúp ích được phần nào các bạn học viên đang làm đề tài về năng lực cạnh tranh tại công ty. Ngoài ra, còn rất nhiều đề tài Quản Trị Kinh Doanh về năng lực cạnh tranh, các bạn có nhu cầu tìm hiểu thêm thì có thể tham khảo tại đây.

===>>> Luận Văn Về Năng Lực Cạnh Tranh

1. Khái niệm năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu hút lợi thế ngày càng cao hơn. Như vậy năng lực của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Nó được thể hiện qua các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị, quy mô, khả năng tham gia cạnh tranh và rút khỏi thị trường sản phẩm, năng lực quản lý, năng suất lao động, trình độ công nghệ và lao động và so sánh tương ứng với các đối thủ cạnh tranh trên cùng một lĩnh vực hay trên một thị trường.

Ảnh hưởng của những cọ sát trong cạnh tranh có thể nhìn thấy rõ nét hơn khi xem xét cạnh tranh ở cấp độ ngành và cấp công ty. Trên phạm vi xem xét này tồn tại khá nhiều khái niệm năng lực cạnh tranh.

Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì năng lực cạnh tranh là khả năng của doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện kinh tế quốc tế.

Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Năng lực cạnh tranh là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ.

Theo Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Y chủ biên (NXB Văn hoá – Thông tin) thì “Năng lực cạnh tranh là khả năng giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của các hàng hoá cùng loại trên cùng một thị trường tiêu thụ”.

Một số học giả khác cho rằng: “Năng lực cạnh tranh hay khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng giành thắng lợi trước các đối thủ cạnh tranh trên các mặt chất lượng, giá cả và dịch vụ giao hàng và sử dụng hàng hoá. Người chiến thắng trong cạnh tranh được gọi là người có năng lực cạnh tranh cao hơn”. Hay có khái niệm khác cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tất cả tiềm năng, nguồn lực mà doanh nghiệp có thể sử dụng để duy trì và phát triển lâu dài vị trí của mình trên thị trường cạnh tranh”.

Tuy có nhiều khái niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh nhưng các khái niệm này đều dựa trên cơ sở chi phí thấp, sản phẩm tốt, công nghệ cao hoặc sự kết hợp các yếu tố này. Một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh nếu có khả năng cung ứng được sản phẩm có chất lượng cao, giá thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước. Như vậy, để có khả năng chiến thắng trong cạnh tranh, cơ bản nhất là lợi thế về giá cả, chất lượng, sự uy tín, sự khác biệt hay các điều kiện về xúc tiến thương mại.

Ngoài ra, các bạn học viên đang gặp khó khăn trong việc làm bài luận văn thạc sĩ của mình, mà muốn tham khảo giá viết luận văn thạc sĩ, thì có thể tham khảo tại đây nhé.

====>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ

2. Lợi thế cạnh tranh

“Lợi thế cạnh tranh là giá trị mà một công ty mang lại cho người mua mà giá trị đó vượt qua chi phí của công ty tạo ra nó. Giá trị mà người mua sẵn sàng để trả, và giá trị cao hơn ngăn trở việc đề nghị những giá thấp hơn đối thủ cho những lợi ích tương đương hay cung cấp những lợi ích độc nhất hơn là nảy sinh một giá trị cao hơn” (Michael E. Porter (1985), dịch giả: Nguyễn Hoàng Phúc, Lợi thế cạnh tranh, NXB Trẻ, 2009, trang 3).

Khi một công ty duy trì được lợi nhuận vượt trên mức trung bình ngành, công ty đó được cho là có một lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ. Mục tiêu của nhiều chiến lược kinh doanh là đạt được một lợi thế cạnh tranh bền vững.

Michael Porter đã nhận diện được hai loại lợi thế cạnh tranh cơ bản, đó là:

  • + Lợi thế chi phí
  • + Lợi thế khác biệt

Lợi thế cạnh tranh tồn tại khi một công ty có thể mang lại những lợi ích tương tự như các đối thủ của mình nhưng ở mức chi phí thấp hơn (lợi thế chi phí) hoặc mang lại những lợi ích vượt xa các sản phẩm cạnh tranh (lợi thế khác biệt). Như vậy, một lợi thế cạnh tranh cho phép công ty cung cấp giá trị cao hơn cho khách hàng, đồng thời tạo ra lợi nhuận lớn hơn cho chính công ty.

Lợi thế chi phí và lợi thế khác biệt được xem như là những ưu thế của công ty vì nó mô tả vị trí đứng đầu của công ty trong ngành, cả về chi phí và sự khác biệt.

Quan điểm dựa trên nguồn lực nhấn mạnh rằng một công ty sử dụng các nguồn lực và khả năng của nó để tạo ra một lợi thế cạnh tranh, kết quả là tạo ra được giá trị vượt trội.

            Hình 1.4: Mô hình lợi thế cạnh tranh

Mô hình lợi thế cạnh tranh
Mô hình lợi thế cạnh tranh

Theo quan điểm dựa vào nguồn lực, để phát triển lợi thế cạnh tranh, công ty phải có các nguồn lực và khả năng vượt trội so với các đối thủ cạnh tranh khác. Nếu không có ưu thế vượt trội này, các đối thủ cạnh tranh đơn giản là sẽ bắt chước những gì công ty đang làm và bất kỳ lợi thế nào cũng sẽ nhanh chóng biến mất.

Nguồn lực: là những tài sản cụ thể của công ty, được dùng để tạo ra một lợi thế chi phí hoặc lợi thế khác biệt mà một số đối thủ cạnh tranh cũng có thể có được một cách dễ dàng. Sau đây là một số ví dụ về những nguồn lực đó:

  • Bằng sáng chế và Nhãn hiệu
  • Bí quyết riêng
  • Cơ sở khách hàng có sẵn
  • Danh tiếng của công ty
  • Vốn thương hiệu

Khả năng: đề cập đến năng lực sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả của công ty. Một ví dụ để minh họa đó là khả năng đưa sản phẩm ra thị trường nhanh hơn đối thủ cạnh tranh. Những khả năng này được gắn vào hành vi của tổ chức, nó không dễ dàng được ghi lại như những quy trình đơn giản, và do đó rất khó cho các đối thủ cạnh tranh có thể bắt chước.

Các nguồn lực và khả năng của công ty cùng nhau tạo thành năng lực đặc biệt cho tổ chức. Những năng lực này tạo điều kiện cho sự đổi mới, hiệu quả, chất lượng và đáp ứng khách hàng, tất cả đều có thể được tận dụng để tạo ra lợi thế chi phí hoặc lợi thế khác biệt.

Lợi thế cạnh tranh: được tạo ra bằng cách sử dụng các nguồn lực và khả năng để đạt được cấu trúc chi phí thấp hơn hoặc tạo ra một sản phẩm khác biệt. Một công ty sẽ tự định vị nó trong ngành bằng việc lựa chọn lợi thế về chi phí thấp hay sự khác biệt. Quyết định này là một thành tố cốt lõi trong chiến lược cạnh tranh của công ty.

Một quyết định quan trọng khác là phân khúc thị trường họ nhắm tới rộng hay hẹp. Porter đã tạo ra một ma trận sử dụng lợi thế chi phí, lợi thế khác biệt, độ rộng hẹp của phân khúc thị trường để xác định một bộ chiến lược chung mà công ty có thể theo đuổi trong việc tạo ra và duy trì một lợi thế cạnh tranh.

Tạo ra giá trị: Công ty tạo ra giá trị bằng cách thực hiện một loạt các hoạt động mà Porter định nghĩa là chuỗi giá trị. Ngoài các hoạt động tạo ra giá trị riêng cho chính công ty, công ty còn cần tổ chức một hệ thống giá trị gồm các hoạt động theo chiều dọc, bao gồm các nhà cung cấp ở phía trên và các kênh phân phối ở phía dưới.

Để đạt được lợi thế cạnh tranh, công ty phải thực hiện một hoặc nhiều hoạt động tạo giá trị mà theo đó giá trị tổng thể họ tạo ra phải lớn hơn so với đối thủ. Giá trị vượt trội được tạo ra bằng cách giảm thiếu chi phí hoặc gia tăng lợi ích vượt trội cho người tiêu dùng (khác biệt).

3. Tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh

Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh là một tất yếu khách quan. Mỗi doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường cần phải chấp nhận cạnh tranh, tuân theo quy luật cạnh tranh cho dù đôi khi cạnh tranh cũng trở thành con dao hai lưỡi. Một mặt nó đào thải không thương tiếc các doanh nghiệp có chi phí cao, chất lượng sản phẩm tồi, tổ chức tiêu thụ kém, mặt khác nó buộc các doanh nghiệp phải không ngừng phấn đấu giảm chi phí để giảm giá bán sản phẩm, hoàn thiện giá trị sử dụng của sản phẩm, tổ chức hệ thống tiêu thụ sản phẩm.

Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khoa học kỹ thuật phát triển, kinh tế phát triển trên nhu cầu tiêu dùng nâng lên ở mức cao hơn rất nhiều, để đáp ứng kịp thời nhu cầu này các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua các yếu tố trực tiếp như giá cả, chất lượng, uy tín … Hay các yếu tố gián tiếp như hoạt động quảng cáo, hội chợ, các dịch vụ sau bán… Hơn nữa trong một nền kinh tế mở như hiện nay các đối thủ cạnh tranh không chỉ là các doanh nghiệp trong nước mà còn là các doanh nghiệp, công ty nước ngoài có vốn đầu tư cũng như trình độ công nghệ cao hơn hẳn thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam là một tất yếu khách quan cho sự tồn tại và phát triển.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Chat Zalo
Chat Facebook
0932091562