Nhân tố phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt

Rate this post

Tải miễn phí mẫu Nhân tố phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho các bạn đang làm luận văn thạc sĩ ngành Tài chính Ngân Hàng, còn rất nhiều nội dung tham khảo về Nhân tố phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, các bạn có thể tham khảo tại các bài viết tiếp theo của Luận văn Panda.

Lưu ý: Trong quá trình làm đề tài luận văn thạc sĩ Tài Chính Ngân Hàng, nếu các bạn không có thời gian làm bài, hay những khó khăn khác có thể liên hệ với Dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ của bên mình để được hỗ trợ làm bài qua: 

SĐT/ZALO: 0932.091.562


1 Các nhân tố chủ quan (Nhân tố phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt)

  1. a) Yếu tố nguồn nhân lực

Con người là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế xã hội nói chung và ngân hàng nói riêng. Mọi hoạt động của nền kinh tế xã hội đều phải thông qua tác động của con người, nếu hoạt động của con người có hiệu quả, phát huy được đầy đủ năng lực sẽ thúc đẩy nền kinh tế ở mức cao. Trong lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng cũng vậy, yếu tố con người được coi trọng và sử dụng đúng đắn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Ngược lại nếu sử dụng những cán bộ thiếu năng lực và kém đạo đức nghề nghiệp sẽ dẫn đến thiệt hại vô cùng to lớn.

Đối với hoạt động dịch vụ ngân hàng: phẩm chất và năng lực của nhân viên giao dịch giữ vai trò chủ đạo và đóng góp khá tích cực vào việc tạo ra những dịch vụ ngân hàng có chất lượng cao, sự tham gia của họ thể hiện ở chất lượng giao tiếp nhằm tạo ấn tượng tốt đẹp về hình ảnh ngân hàng, sự tự tin và tính chuyên nghiệp trong việc nhanh chóng nhận biết nhu cầu và sự mong đợi của khách hàng, xử lý thành thạo các thủ tục dịch vụ đồng thời vẫn đảm bảo lợi ích của ngân hàng. Chủ động giúp đỡ, đề nghị các giải pháp hiệu quả có thể giải toả được lúng túng dè dặt phát sinh từ phía khách hàng khi tham gia sử dụng dịch vụ. Do vậy, trong hoạt động ngân hàng muốn nâng cao hiệu quả thì việc chú trọng phát triển nguồn nhân lực có ý nghĩa to lớn. Một ngân hàng với điều kiện cơ sở yêu cầu kỹ thuật cao, với đội ngũ cán bộ nhân viên có phẩm chất, tinh thông nghề nghiệp sẽ thu hút được nhiều khách hàng và là điều kiện cơ bản để hoạt động kinh doanh của ngân hàng đạt hiệu quả cao.

Như vậy, đây là một quan hệ hai chiều, ngân hàng phải không ngừng nâng cao trình độ nhân viên, ứng dụng các công nghệ mới mà chúng ta cũng cần phải cập nhật thông tin để nâng cao sự hiểu biết của mình cũng như vận dụng chúng vào cuộc sống hàng ngày.

  1. b) Yếu tố cơ sở vật chất (Nhân tố phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt)

Điều này thể hiện ở trụ sở giao dịch của ngân hàng phải khang trang, các phương tiện thiết bị phục vụ khách hàng như bàn ghế, quầy giao dịch phù hợp, các tài liệu giấy tờ với mẫu mã đẹp, sổ séc, thẻ tín dụng, máy rút ti ền tự động, các trang thiết bị ngân hàng s ử dụng nội bộ như mạng vi tính với hệ thống thanh toán nhanh, chính xác, an toàn…tăng thêm lòng tin c ủa khách hàng đối với ngân hàng.

Ngoài ra hệ thống mạng lưới chi nhánh cũng luôn là sự quan tâm của khách hàng khi đến với một Ngân hàng. Với Ngân hàng có h ệ thống chi nhánh, phòng giao dịch rộng khắp sẽ tạo thu ận lợi cho khách hàng khi tới giao dịch bởi họ sẽ được hưởng các chính sách ưu đãi và các sản phẩm dịch vụ đồng nhất trong toàn hệ thống, cũng như sự nhanh chóng, chính xác khi giao dịch trong cùng m ột hệ thống.

C, Hoạt động kinh doanh chung của Ngân hàng

Mỗi ngân hàng khi triển khai bất kỳ một mảng dịch vụ nào cũng phải xác định được những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đang chờ đợi mình. Bên cạnh đó bất kỳ hoạt động kinh doanh nào của ngân hàng dựng cho mình một kế hoạch kinh doanh, một tầm nhìn phù hợp. Đó chính là chiến lược kinh doanh, được xây dựng trên nền tảng điều tra, khảo sát các đối tượng khách hàng mục tiêu, môi trường công nghệ, môi trường cạnh tranh, nguồn lực cơ bản của ngân hàng.

Chiến lược Marketing giúp khách hàng đến gần hơn với dịch vụ Ngân hàng. Từ đó thấy được sự tiện lợi của các dịch vụ thanh toán KDTM, giúp người dân dễ dàng tiếp cận và sử dụng.

Như vậy, Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế. Với chức năng này, các ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhi ều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, UNC, UNT, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng,… Do đó, hoạt động kinh doanh chung của ngân hàng sẽ ảnh hưởng khá mạnh mẽ tới Thanh toán không dùng tiền mặt của Ngân hàng thương mại.

Xem Thêm chi tiết về quy trình làm luận văn và bảng giá viết thuê luận văn thạc sĩ tại đây:

===> Bảng Giá viết luận văn thạc sĩ

2 Các nhân tố khách quan (Nhân tố phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt)

  1. a) Các yếu tố thuộc về khách hàng

Thói quen sử dụng tiền mặt của người dân, thói quen và tâm lý ưa dùng tiền mặt có ảnh hưởng lớn đến hoạt động Thanh toán không dùng tiền mặt. Nếu người dân ở đâu mà có tâm lý và thói quen dùng tiền mặt thì ở đó Thanh toán không dùng tiền mặt kém phát triển, vì vậy cần phải có những giải pháp nhằm thay đổi thói quen này thì hoạt động Thanh toán không dùng tiền mặt mới phát triển được.

Thu nhập của người dân, thu nhập có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động Thanh toán không dùng tiền mặt, thu nhập của người dân càn g cao thì nhu cầu sử dụng dịch vụ Thanh toán không dùng tiền mặt càng lớn và khi đó Thanh toán không dùng tiền mặt có cơ hội để phát triển.

Trình độ dân trí: TT KDMT thường gắn liền với sự phát triển của khoa học

công nghệ. Khi trình độ dân trí thấp nhu cầu sử dụng các dịch vụ Thanh toán không dùng tiền mặt cũng thấp và ngược lại.

B, Các yếu tố môi rường Môi trường ngành

Cạnh tranh giữa các ngân hàng nói chung và các ngân hàng trên cùng địa bàn

nói riêng là yếu tố quyết định đến việc mở rộng và thu hẹp thị phần của một ngân hàng. Nếu trên thị trường chỉ có một ngân hàng cung cấp dịch vụ thẻ thì ngân hàng này sẽ có được lợi thế độc quyền nhưng phí lại có th ể rất cao và thị trường khó tr ở nên sôi động. Nhưng khi nhiều ngân hàng tham gia vào thị trường thì cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt, và mỗi ngân hàng đều dựa vào thế mạnh của mình để làm cho sản phẩm vượt trội hơn đối thủ.

Môi trường kinh tế xã hội (Nhân tố phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt)

Ngân hàng là ngành kinh doanh tiền tệ trong nền kinh tế, nên các sản phẩm dịch vụ ngân hàng có những tác động to lớn đến hoạt động kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia. Do vậy, Chính phủ các quốc gia đều phải quản lý chặt chẽ hoạt động của hệ thống ngân hàng thông qua luật pháp. Vì lẽ đó, những thay đổi trong chính sách, luật pháp của nhà nước sẽ ảnh hưởng cả trực tiếp và gián tiếp tới hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung và tới danh mục sản phẩm dịch vụ ngân hàng nói riêng.

Một nền kinh tế phát triển ổn định sẽ là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của Thanh toán không dùng tiền mặt. Với một nền kinh tế phát triển mạnh, khối lượng hàng hóa được sản xuất ra nhiều hơn và tiêu thụ với khối lượng lớn, người dân sẽ có khuynh hướng ưa chuộng việc sử dụng Ngân hàng như một trung gian thanh toán bởi ngân hàng cung cấp các tiện ích cho phép khách hàng tham gia thanh toán có thể giảm tải được các chi phí vận chuyển, bảo quản, kiểm đếm khi sử dụng hình thức thanh toán bằng tiền mặt, đồng thờ i giúp quá trình thanh toán thuận tiện,

nhanh chóng, và an toàn.

Ngược lại nếu một nền kinh tế không ổn định, những biến động lớn của nền kinh tế có thể dẫn tới sự sụp đổ của nhiều ngân hàng và ảnh hưởng thường mang tính hệ thống. Đây là một yếu tố hết sức nhạy cảm làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng và Thanh toán không dùng tiền mặt vì trong quan niệm của hầu hết mọi người thì ngân hàng là một nơi cất trữ tài sản an toàn nhất thế mà ngân hàng còn sụp đổ thì chúng ta có nên gửi tài sản vào ngân hàng nữa hay không?

Chính vì thế, môi trường kinh tế vĩ mô có tác động rất lớn đến toàn bộ hoạt động của các ngân hàng nói chung và Thanh toán không dùng tiền mặt nói riêng.

Môi trường pháp lý (Nhân tố phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt)

Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ – một lĩnh vực khá nhạy cảm và có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nên được sự quan tâm của nhiều cơ quan ban ngành như: Quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước… Vì thế ngành ngân hàng phải tuân thủ theo các luật như: luật Ngân hàng Nhà nước, luật Tổ chức tín dụng,… hoặc nhận sự chỉ đạo, hướng dẫn trực tiếp từ Chính phủ. Do đó đã tạo hành lang pháp lý cơ bản cho hệ thống ngân hàng ho ạt động và phát triển.

Luật pháp tạo cơ sở pháp lý cho ho ạt động ngân hàng. Đó là những quy định bắt buộc các ngân hàng phải tuân theo, đồng thời cũng là cơ sở giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình hoạt động ngân hàng. Nếu các quy định của pháp luật không đầy đủ, không rõ ràng và thiếu tính đồng bộ nhất quán thì sẽ gây khó khăn cho các hoạt động ngân hàng. Ngược lại, một hệ thống pháp luật đầy đủ và hoàn chỉnh sẽ là một hành lang pháp lý vững chắc cho các ngân hàng trong hoạt động của mình. Khi đó pháp luật sẽ có tác động tích cực, trở thành động lực giúp cho ngân hàng hoạt động có hiệu quả hơn.

Như vậy hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng đều bị chi phối của pháp luật và Thanh toán không dùng tiền mặt là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng nên cũng chịu ảnh hưởng lớn của pháp luật.

Xem nhiều lời mở đầu tại đây:

===> Lời mở đầu trong luận văn thạc sĩ

3 Kinh nghiệm về phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt ở một số ngân hàng trên thế giới và Việt Nam, bài học kinh nghiệm đối với BIDV

3.1 Sự phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Châu Âu: (Nhân tố phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt)

Séc đã là một trong những phương tiện thanh toán từ lâu ở các nước phát triển tại Châu Âu. Tại các nước Châu Âu đều có Trung tâm xử lý thanh toán bù trừ séc do NHTW quản lý, chính vì vậy Séc được sử dụng phổ biến. Hiện nay, không chỉ có séc mà các phương thức thanh toán khác như: thẻ thanh toán, UNC, ngân hàng điện tử và các phương tiện Thanh toán không dùng tiền mặt khác ngày càng phổ biến.

Thụy Điển: là quốc gia đã mạnh dạn thay đổi phương thức thanh toán truyền thống và áp dụng phương thức thanh toán mới khi nền tảng công nghiệp tiên tiến, đào tạo đội ngũ nhân viên ngân hàng, đổi mới bộ máy tổ chức, tạo ra thói quen Thanh toán không dùng tiền mặt cho người dân. Công cu ộc Thanh toán không dùng tiền mặt ở Thuỵ Điển mới bắt đầu năm 1999, vậy mà sau năm 2000, tỷ lệ tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán của hụy Điển chỉ còn 0,7%, biết rằng trước năm 1999 còn s ố này là 17%. [10]

3.2 Sự phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Trung Quốc (Nhân tố phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt)

Trong những năm gần đây, tại Trung Quốc các phương tiện Thanh toán không dùng tiền mặt đóng vai trò quan trọng trong việc thay thế tiền mặt. Để đẩy mạnh Thanh toán không dùng tiền mặt, Trung Quốc đã áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp: biện pháp hành chính bắt buộc trong quan hệ thanh toán đối với chi tiêu ngân sách, bi ện pháp phối hợp chặt chẽ giữa các bộ ngành liên quan mà nhất là Bộ công an trong việc đảm bảo an toàn cho các phương tiện Thanh toán không dùng tiền mặt, thiết lập hệ thống thanh toán an toàn và hiệu quả gồm 3 cấp: NHTW, Ngân hàng thương mại, các tổ chức phi tài chính. Cùng với sự giám sát và quản lý của NHTW, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, hạ tầng từ thành thị đến nông thôn cho hoạt động thanh toán.

Hiện nay hệ thống thanh toán của Trung Quốc là hệ thống đồng bộ gồm: hệ thống thanh toán giá trị cao, hệ thống thanh toán điện tử giá trị thấp theo lô, h ệ thống thanh toán séc, h ệ thống thanh toán bù tr ừ tự động, hệ thống thanh toán nội bộ của các Ngân hàng thương mại, hệ thống thanh toán bù tr ừ thẻ liên ngân hàng, h ệ thống thanh toán ngoại tệ trong nước. Xu hướng sắp tới, Trung Quốc phát triển phương thức Thanh toán không dùng tiền mặt trên hệ thống internet, giảm số lượng tiền mặt lưu thông cũng như số lượng thẻ có chiều hướng giảm.

3.3 Sự phát triển thanh toán không dùng tiền mặt của một số ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Nắm bắt sự phát triển nhanh chóng cũng như lợi ích mang lại, các Ngân hàng thương mại Việt Nam đã và đang ứng dụng, triển khai những công nghệ mới nhất trong hoạt động kinh doanh nói chung, dịch vụ thanh toán nói riêng, đặc biệt về dịch vụ Internet, dịch vụ qua thiết bị di động, dịch vụ thẻ. Tính đến nay, ở Việt Nam, có 65 Ngân hàng thương mại đã cung ứng dịch vụ Thanh toán không dùng tiền mặt, 35 Ngân hàng thương mại cung cấp dịch vụ thanh toán Mobile Banking, hơn 60 Ngân hàng thương mại cung ứng dịch vụ thẻ. Ngoài ra, còn có rất nhiều tổ chức trung gian thanh toán có thể hỗ trợ cho các khách hàng tham gia thanh toán online, phục vụ thanh toán điện tử. Một số Ngân hàng thương mại Việt Nam đã chủ động đầu tư, ứng dụng các giải pháp công nghệ thanh toán mới, hiện đại, như: xác thực vân tay, sinh trắc, sử dụng mã QR code, thanh toán phi tr ực tiếp… để mang lại tiện lợi và an toàn trong giao dịch thanh toán điện tử. (Nhân tố phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt)

Với sự triển khai mạnh mẽ và ứng dụng rộng rãi nói trên, nên ho ạt động thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) trong nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ trong những năm gần đây. Tỷ trọng tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán có xu hướng giảm dần, từ 14,02% năm 2010 xuống còn khoảng 12% hiện nay. Tỉ lệ người dân có tài khoản tại Ngân hàng thương mại ở mức khá cao. Tính đến cuối tháng 10/2016, đã đạt trên 67,4 triệu tài khoản cá nhân, tăng 4 lần so với năm 2010, ước tính đến cuối tháng 9/2017, đạt trên 68 triệu tài khoản. Số lượng thẻ do các Ngân hàng thương mại phát hành cũng tăng lên nhanh, đến nay đạt trên 110 triệu thẻ các loại, trong đó có khoảng gần 9% là thẻ tín dụng quốc tế.

Trong thời gian qua, để phát triển TT DTM, nâng cao hiệu quả phát triển dịch vụ thanh toán, các Ngân hàng thương mại đã chủ động chia sẻ về những kinh nghiệm kết nối với các đơn vị bán lẻ và cung ứng dịch vụ để triển khai thanh toán điện tử, tạo thuận tiện và linh hoạt hơn cho người tiêu dùng; Kết quả đạt được và những khó khăn, thách thức trong lĩnh vực này; Định hướng đầu tư và ứng dụng công nghệ hiện đại của các Ngân hàng thương mại trong thanh toán điện tử nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao và kỳ vọng của khách hàng .

XEM THÊM NHIỀU CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG LUẬN VĂN THẠC SĨ TẠI ĐÂY:

===>>> CƠ SỞ LÝ LUẬN 

3.4 Kinh nghiệm của Ngân hàng Công thương (Nhân tố phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt)

Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank) cũng là ngân hàng có số lượng thẻ phát hành l ớn, chiếm thị phần 21,04%. Doanh số sử dụng thẻ nội địa cao, chiếm 18,76% thị phần. Trong thời gian qua, Vietinbank triển khai rất mạnh việc phát triển dịch vụ Thanh toán không dùng tiền mặt với các đơn vị cung ứng dịch vụ công trên địa bàn một số thành phố lớn của cả nước, như TP.Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng,… về thu viện phí, thu học phí, thanh toán phí đường bộ, thu thuế, tiền điện… VietinBank đã cung cấp cho khách hàng r ất nhiều các kênh t hanh toán như: thanh toán trực tuyến qua thẻ, thanh toán qua Thanh toán không dùng tiền mặt, mobile banking, thanh toán qua hệ thống của đối tác… trên nền tảng core banking mới triển khai rất thành công. Các kênh cung cấp cho khách hàng luôn hướng tới mục tiêu đa dạng hóa dịch vụ, cung cấp trải nghiệm tốt nhất đến cho khách hàng, cùng chính sách phí cạnh tranh, từ đó dịch vụ ngân hàng điện tử, thanh toán trực tuyến luôn có được sự phát triển nhanh chóng và bứt phá, tốc độ tăng trưởng dịch vụ luôn ở mức rất cao.

 Trong những năm gần đây, VietinBank luôn đi đầu khi cho ra đời nhiều hình thức thanh toán mới, như: thanh toán dùng QRCode, cung c ấp mua sắm trực tuyến ngay trên ứng dụng ngân hàng thay vì qua Lazada, Amazon, thanh toán học phí, thanh toán phí cầu đường, thanh toán viện phí, tiền điện, nộp thuế và rất nhiều hình thức thanh toán kết nối giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp và doanh nghiệp với từng cá nhân. Đầu năm 2017, VietinBank đã triển khai thành công h ệ thống ngân hàng lõi – Core banking. Dựa trên nền tảng ngân hàng lõi này, Vietinbank đang tiếp tục triển khai nhiều dịch vụ vượt trội. Một trong các dịch vụ đó là dịch vụ hành chính công áp dụng cho các sở, ban, ngành tại 63 tỉnh, thành phố trong cả nước. [14] (Nhân tố phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt)

3.5 Kinh nghiệm của Ngân hàng Ngoại thương

Hiện nay, Vietcombank đang duy trì vị thế số 1 về cạnh tranh trên th ị trường thẻ, được các tổ chức thẻ quốc tế: Visa và MasterCard trao giải ngân hàng có doanh số sử dụng thẻ và doanh số thanh toán tại đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT) cao nhất Việt Nam. Vietcombank cũng là ngân hàng duy nhất tại Việt Nam độc quyền phát hành và chấp nhận thanh toán thẻ American Express. Được biết, Vietcombank là ngân hàng tiên phong tri ển khai dịch vụ thẻ tại thị trường Việt Nam từ những năm 90, với một số lợi thế như: Là ngân hàng đầu tiên triển khai thanh toán tr ực tuyến năm 2007 và hiện nay đang dẫn đầu thị phần thanh toán trực tuyến, 96% thẻ quốc tế và 60% thẻ nội địa tại Việt Nam. Vietcombank cũng là ngân hàng đầu tiên ứng dụng EMV trong phát hành và thanh toán thẻ. Là ngân hàng duy nhất hiện nay chấp nhận thanh toán 7 thương hiệu thẻ quốc tế lớn nhất thế giới: American Express, Visa, MasterCard, JCB, Diners Club, Discover và UnionPay. Vietcombanmk cũng có hơn 2.500 máy ATM và 85.000 điểm chấp nhận thanh toán thẻ (POS) trên toàn quốc.(Nhân tố phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt)

Để thỏa mãn nhu cầu và kỳ vọng ngày càng cao c ủa khách hàng trong thanh toán thẻ, hiện nay, Vietcombank đang thực hiện, nghiên cứu và chuẩn bị đưa vào triển khai: giải pháp thanh toán thẻ qua thiết bị di động (Moca/mVisa sử dụng công nghệ QR code, SamsungPay sử dụng công ngh ệ Tokenization,…); Triển khai chip hóa thẻ nội địa theo lộ trình của NHNN; Triển khai EMV contactless cho các sản phẩm thẻ do Vietcombank phát hành nhằm tối ưu hóa tính năng thẻ và an toàn, tiện lợi cho người dùng. Lộ trình Vietcombank triển khai sẽ bắt đầu từ năm 2018, với độ bao phủ rộng lớn cho cả lĩnh vực phát hành và thanh toán thẻ, áp dụng cho cả sản phẩm thẻ quốc tế và nội địa. Triển khai những sản phẩm thẻ cao cấp bậc nhất hiện nay, với nhiều tính năng và ưu đãi vượt trội, để tạo thêm nhiều lựa chọn cho khách hàng như: sản phẩm thẻ American Express Centurion, Visa infinite, World MasterCard,…[12]

Xem thêm nhiều bài luận văn mẫu khác tại đây:

===> Luận văn thạc sĩ Tài Chính Ngân Hàng

4 Bài học kinh nghiệm về phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho BIDV và BIDV Quảng Trị.

Qua nghiên cứu Sự phát triển thanh toán không dùng tiền mặt của một số nước trên thế giới và các Ngân hàng thương mại trong nước trên các khía cạnh khác nhau, có thể rút ra một số kinh nghiệm vận dụng vào việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt như sau: (Nhân tố phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt)

Một là, phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt chủ yếu của các nước là: Séc, UNC, UNT và các phương tiện thanh toán điện tử như thẻ, lệnh thanh toán; các hệ thống thanh toán hướng tới giải quyết vấn đề tốc độ thanh toán, thuận lợi trong giao dịch, quản lý vốn hiệu quả.

Hai là, những thành tựu về công nghệ đang góp phần đẩy nhanh quá trình cung cấp dịch vụ và tạo thói quen sử dụng các dịch vụ thanh toán cho khách hàng. Còn các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thì không ngừng cải tiến các hệ thống truyền tải dịch vụ của mình đến khách hàng và không ngừng cải tiến các dịch vụ đảm bảo an toàn, nhanh chóng, thuận tiện.

Ba là, nhiều loại hình dịch vụ mới đang bùng nổ, đáng chú ý là các giao dịch thanh toán điện tử, qua hệ thống máy tính. Thẻ trả trước là một phương tiện thanh toán phát triển cùng với sự phát triển của lĩnh vực công nghệ thông tin, đặc biệt là Internet. Loại thẻ này có thể phục vụ đắc lực cho việc phát triển thương mại điện tử do khả năng giao dịch của các cá nhân có thẻ, qua Internet hoặc Mobile phone và không nhất thiết thông qua tài khoản NH. Thẻ có thể phát hành với mệnh giá nhỏ thích hợp với những khoản chi tiêu nhỏ, lẻ và việc phát hành không nhất thiết phải có tên chủ thẻ và tài khoản ở Ngân hàng. Vì vậy loại thẻ này có tiềm năng rất lớn ở các nước đang phát triển, nơi mà một bộ phận lớn dân cư chưa có tài khoản ở NH. Đặc điểm thẻ trả trước thanh toán nhanh chóng, tức thời khiến cho việc thanh toán thẻ trả trước thuận tiện gần như tiền mặt trong các giao dịch thanh toán tại điểm bán hàng. (Nhân tố phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt)

Bốn là, để thúc đẩy luân chuyển vốn trong nền kinh tế, giữa các nền kinh tế thì cơ sở vật chất của hoạt động thanh toán mà đặc biệt là công nghệ thông tin là yếu tố then chốt, bao gồm hệ thống mạng lưới viễn thông điện tử, đường truyền hệ thống tốc độ cao, các hệ thống mạng lưới chuyển tiền điện tử, các phương tiện truyền và sử lý số liệu khác.

Năm là, khuôn khổ pháp lý vững chắc là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới tốc độ phát triển công nghệ thanh toán, đó là nhiệm vụ của Chính phủ, NHNN và Bộ Tài chính. Cần xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, cơ chế chính sách một cách đồng bộ, nhất quán phù hợp với thông lệ quốc tế, tình hình phát triển kinh tế, xã hội và CNTT.

Sáu là, chính sách đầu tư của Chính phủ có tính chất quyết định tới sự phát triển công nghệ thanh toán, thông qua việc xây dựng hệ thống mạng lưới hạ tầng cơ sở kỹ thuật cho hệ thống thanh toán quốc gia bằng nguồn vốn Ngân sách hoặc bằng nguồn vốn nước ngoài thông qua các chương trình hợp tác quốc tế và khu vực, hoặc khuyến khích khu vực tư nhân bỏ vốn đầu tư theo các chuẩn mực xác định hoặc thành lập các hệ thống liên kết chung.[6]

DOWNLOAD FILE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Chat Zalo
Chat Facebook
0932091562