Phân Loại Chứng Cứ Trong Tố Tụng Dân Sự

Luận Văn Thạc Sĩ Về Luật

Luận Văn Thạc Sĩ Luật về Phân Loại Chứng Cứ Trong Tố Tụng Dân Sự. Tài liệu này được Luận văn Panda sưu tầm từ nhiều nguồn luận văn thạc sĩ đạt điểm cao của các công trình học viên khóa trước. Hy vọng với nội dung bài viết Phân Loại Chứng Cứ Trong Tố Tụng Dân Sự. Sẽ hỗ trợ cho các bạn học viên đang làm Luận văn thạc sĩ ngành Luật có thêm nguồn tài liệu tham khảo.

Ngoài ra, để hỗ trợ thêm cho nhiều bạn học viên đang tìm kiếm tài liệu luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật, và những tài liệu liên quan đến luận văn thạc sĩ ngành Luật về Phân Loại Chứng Cứ Trong Tố Tụng Dân Sự, Luận văn Panda có chia sẻ nhiều tài liệu luận văn ngành Luật chọn lọc, nhằm hỗ trợ các bạn học viên đang làm luận văn được tốt hơn. Các bạn có thể tham khảo nhiều bài luận văn tại đây.

===>>> KHO 999 + Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

1. Nguồn chứng cứ trong tố tụng dân sự

Trong khoa học pháp lý về tố tụng dân sự còn đưa ra khái niệm nguồn chứng cứ.Việc đưa ra khái niệm nguồn chứng cứ, trên cơ sở đó phân biệt đâu là chứng cứ, đâu là nguồn chứng cứ có ý nghĩa rất quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.

Theo Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, thì “Nguồn được hiểu là nơi bắt đầu, nơi phát sinh ra hoặc nơi có thể cung cấp hay rút ra cái gì, điều gì. Do đó, nguồn chứng cứ được hiểu là nơi rút ra các chứng cứ.”[77, tr.161] Theo Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam do Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 2011 thì “Con người, sự vật, tài liệu chứa đựng các thông tin về vụ việc dân sự (chứng cứ) được gọi là nguồn chứng cứ”[2, tr.101].

Như vậy, có thể coi là nguồn chứng cứ trong Tố tụng dân sự là những con người, vật, tài liệu mang những thông tin về vụ việc dân sự.Nếu như chứng cứ là những thông tin, tình tiết, sự kiện về vụ việc dân sự được cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá theo một trình tự do pháp luật quy định mà Tòa án dùng làm căn cứ để giải quyết vụviệc dân sự thì nguồn được hiểu là nơi bắt đầu, nơi phát sinh, nơi cung cấp hay nơi rút ra chứng cứ. “Nguồn chứng cứ chính là hình thức chứa đựng thông tin, dấu vết về những gì liên quan đến vụ việc dân sự. Chứng cứ của vụ việc dân sự sẽ được rút ra từ các nguồn chứng cứ.”[17,tr.101]

Như vậy, trong mối tương quan giữa chứng cứ và nguồn chứng cứ thì chứng cứ là các thông tin, tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ việc dân sự, phản ánh sự thật khách quan của vụ việc dân sự còn nguồn chứng cứ là những cái chứa đựng các thông tin, tình tiết, sự kiện đó. Trong mối tương quan giữa chứng cứ, nguồn chứng cứ và phương tiện chứng minh thì phương tiện chứng minh là phương tiện để xác định chứng cứ, phương tiện chứng minh khác nguồn chứng cứ, tuy vậy trong một số trường hợp có sự trùng hợp giữa nguồn chứng cứ và phương tiện chứng minh.

Ví dụ,đối với tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà có vật chứng thì vật chứng và là phương tiện chứng minh đồng thời vừa là nguồn chứng cứ.“Nguồn chứng cứ và phương tiện chứng minh là hai khái niệm khác nhau. Tuy vậy, trên thực tế chúng thường được hiểu là một. Bởi, trong một số trường hợp các phương tiện chứng minh cũng chính là cái có thể rút ra các tin tức về vụ việc dân sự như vật chứng, tài liệu chứa đựng chứng cứ v.v. tức cũng là nguồn chứng cứ. Việc phân biệt nguồn chứng cứ với phương tiện chứng minh chẳng qua là do nhìn chúng trên những phương diện, góc độ khác nhau như là nơi rút ra chứng cứ hay là công cụ được sử dụng để xác định các tình tiết của vụ việc dân sự”[77, tr.162] Phương tiện chứng minh là những công cụ do pháp luật quy định cho các chủ thể chứng minh được sử dụng để làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự. Vì vậy, không phải tất cả nguồn chứng cứ đều là phương tiện chứng minh và ngược lại.

Nguồn chứng cứ có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định chứng cứ, do vậy trong pháp luật tố tụng dân sự của các nước cũng như pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam đều thừa nhận và quy định về nguồn chứng cứ. Theo đó, thì nguồn chứng cứ bao gồm các loại sau đây:

Thứ nhất là các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được.

Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được là nguồn chứng cứ bởi đó có thể rút ra các chứng cứ. Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được có thể được Tòa án sử dụng với tư cách là chứng cứ nếu thỏa mãn được những yêu cầu nhất định do pháp luật quy định. Đối với các tài liệu đọc được nội dung phải là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận. Bản gốc là bản đầu tiên, là bản được dùng để làm ra bản sao.Ngược lại, bản sao là bản được làm ra từ bản gốc hay được chép lại từ bản gốc.

Ví dụ: Bản hợp đồng mua bán hay bản sao của hợp đồng mua bán đó có chứng thực trong vụ án tranh chấp về hợp đồng mua bán. Đối với các tài liệu nghe được, nhìn được thì phải được xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó. Các tài liệu nghe nhìn được có thể là các băng, đĩa, ổ USB v.v…hay văn bản xác nhận xuất xứ. Kèm theo việc đưa ra các tài liệu nghe được, nhìn được thì người đưa ra chúng phải xuất trình văn bản xác nhận về nguồn gốc của chúng.

Thứ hai là các vật chứng.

Vật chứng là những vật khác nhau của thế giới vật chất có chứa đựng những thông tin, dấu vết về vụ việc dân sự. Từ những thông tin, dấu vết chứa đựng trong vật chứng cho phép Tòa án xác định được những tình tiết của vụ việc dân sự để giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự. Các vật chứng được sử dụng với tư cách là chứng cứ nếu là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc dân sự; nếu không phải là hiện vật gốc hoặc không liên quan đến vụ việc thì không phải là chứng cứ trong vụ việc dân sự đó.Hiện vật gốc liên quan đến vụ việc dân sự là hiện vật đầu tiên chứa đựng thông tin, dấu vết về vụ việc dân sự. Giá trị chứng minh của các vật chứng thể hiện ở tính đặc định của các vật đó. Vì chỉ là vật đặc định thì mới giữ được các dấu vết, thông tin về vụ việc dân sự.

Thứ ba là lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng.

Đương sự, người làm chứng là những người tham gia vào sự việc, chứng kiến sự việc.Trong lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng thường chứa đựng các thông tin về vụ việc dân sự nên là nguồn chứng cứ. Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình và được xuất trình theo đúng thủ tục pháp luật quy định.

Đương sự có quyền và lợi ích liên quan đến vụ việc dân sự nên lời khai của họ thường chứa đựng những thông tin, tình tiết, sự kiện có lợi cho họ.Vì vậy, khi sử dụng lời khai của đương sự để xác định sự thật khách quan của vụ việc dân sự cần xem xét thận trọng cùng các chứng cứ khác.Đối với người làm chứng, không có quyền lợi liên quan đến vụ việc dân sự Tòa án giải quyết nên việc tham gia tố tụng của họ khách quan hơn đương sự.

Tuy vậy, vì nhưng nguyên nhân khác nhau như do khả năng nhận thức sự việc, khả năng nhớ và phản ánh lại sự việc, điều kiện chứng kiến sự việc v.v…Do đó, khi sử dụng lời khai của người làm chứng để giải quyết vụ việc dân sự Tòa án vẫn phải kiểm tra, đối chiếu cẩn thận với các chứng cứ khác của vụ việc dân sự. Ngoài ra, để sử dụng được lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng thì lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng phải được thể hiện dưới những hình thức nhất định như ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình. Trường hợp lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được ghi trong băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình thì cũng phải có văn bản xác nhận xuất xứ của chúng.

Thứ tư là kết luận giám định.

Trong nhiều vụ việc dân sự, để làm sáng tỏ một tình tiết, sự kiện nhất định đòi hỏi phải sử dụng đến những kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn của giám định viên. Kết luận của giám định viên là một kết luận khoa học được đưa ra sau khi đã sử dụng các kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn để xác định các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự. Kết luận giám định có tác dụng làm sang tỏ tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự nên có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giải quyết vụ việc dân sự.

Trong việc giải quyết nhiều vụ việc dân sự, kết luận giám định còn mang tính chất quyết định đối với việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự của Tòa án. Tuy vậy, kết luận giám định có thể không đúng vì phụ thuộc vào trình độ, tính khách quan trong việc giám định của người giám định, các tài liệu giám định v.v…Vì vậy, việc giám định phải được tiến hành theo đúng thủ tục quy định của pháp luật và khi sử dụng kết luận giám định Tòa án cũng phải đối chiếu, sử dụng cùng các chứng cứ khác.

Thứ năm là biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ.

Trong những vụ việc dân sự mà đối tượng tranh chấp là những tài sản hoặc tài liệu, vật chứng không thể di chuyển đến Tòa án được thì để giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự phải tiến hành xem xét, xác minh tại chỗ để xác định đúng thực trạng tài sản tranh chấp hoặc tài liệu, vật chứng. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ là tài liệu phản ánh lại quá trình xác minh, xem xét tại chỗ tài sản tranh chấp hoặc tài liệu, vật chứng. Trong Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ cũng chứa đựng các thông tin về vụ việc dân sự nên cũng là nguồn chứng cứ. Để bảo đảm việc giải quyết đúng vụ việc dân sự, việc lập và sử dụng biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ phải được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

Thứ bảy là tập quán.

Tập quán là thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất và sinh hoạt thường ngày, được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa nhận và làm theo như một quy ước chung của cộng đồng.Từ tập quán có thể rút ra được những thông tin về vụ việc dân sự được giải quyết nên tập quán cũng là nguồn chứng cứ.Thực tiễn đòi hỏi việc áp dụng phong tục tập quán trong hoạt động giải quyết các vụ việc dân sự do trong nhiều trường hợp không có quy định của pháp luật mà các thành viên trong cộng đồng người phải dựa trên cơ sở tập quán là một bộ phận cấu thành căn bản của truyền thống văn hoá và giá trị đạo đức trong cộng đồng người đó để xử sự. Tuy nhiên, chỉ chấp nhận tập quán không trái pháp luật, đạo đức xã hội. Đối với những vấn đề mà đương sự viện dẫn tập quán nhưng đã có văn bản quy phạm pháp luật quy định, thì Toà án phải áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó để giải quyết mà không áp dụng tập quán.

Thứ tám là kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản.

Định giá tài sản, thẩm định giá tài sản thực chất là việc tổ chức có thẩm quyền thực hiện việc xác định giá trị tài sản.Đối với những vụ việc dân sự cần xác định giá trị tài sản tranh chấp mới có thể giải quyết đúng được thì phải cho định giá tài sản hoặc thẩm định giá tài sản đó.Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản có chứa đựng những thông tin về vụ việc dân sự nên là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, để Tòa án sử dụng được kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản thì việc định giá tài sản, thẩm định giá tài sản phải do tổ chức có thẩm quyền thực hiện và được tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định.

Trên đây là đề tài Luận Văn ngành Luật: Phân Loại Chứng Cứ Trong Tố Tụng Dân Sự. Để hoàn thiện bài Luận văn thạc sĩ ngành Luật về Phân Loại Chứng Cứ Trong Tố Tụng Dân Sự. được hoàn thiện hơn, thì các bạn tham khảo thêm nội dung dưới đây của bài viết bao gồm phân loại chứng cứ của luận văn. Ngoài ra, các bạn đang gặp khó khăn trong việc lựa chọn đề tài, hoặc chưa làm được đề cương và bài luận văn thạc sĩ của mình. Thì có thể tham khảo bảng giá viết thuê luận văn thạc sĩ và quy trình làm luận văn thạc sĩ tại đây.

===>>> Dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ngành Luật

2. Phân loại chứng cứ

Sự phong phú và đa dạng các nguồn chứng cứ dẫn đến sự phong phú và đa dạng các loại chứng cứ.Mỗi loại chứng cứ, ngoài những đặc điểm chung như khách quan, liên quan mật thiết đến vụ việc dân sự và phải được cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá theo trình tự do pháp luật quy định thì còn có những đặc điểm riêng của chúng như chứng cứ rút ra từ vật chứng, tài liệu thì mang tính ổn định còn chứng cứ rút ra từ lời khai của đương sự, người làm chứng thì có khi bị thay đổi. Để giúp cho việc nghiên cứu xây dựng các quy định về chứng cứ và việc xem xét, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong thực tiễn được tốt, lý luận về chứng cứ còn đề cập tới việc phân loại chứng cứ. Theo đó, mỗi chứng cứ có thể được xếp vào các loại khác nhau tùy theo các đặc điểm của chúng và tùy theo cách phân loại. Và việc phân loại chứng cứ cũng chỉ mang tính chất tương đối.

Theo các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý đã được công bố thì trên thực tế có rất nhiều cách phân loại chứng cứ khác nhau nhưng mục đích chung của việc phân loại chứng cứ là xếp chúng thành những nhóm nhất định. “Tuy vậy, việc phân loại chứng cứ không làm thay đổi giá trị chứng minh của chứng cứ.Việc phân loại chứng cứ chủ yếu có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu và đưa ra những quy định về chứng cứ.Bên cạnh đó, nó cũng có ý nghĩa đối với việc sử dụng chứng cứ trong giải quyết vụ việc dân sự.[77, tr.175]

Đối với việc nghiên cứu và đưa ra những quy định về chứng cứ, việc phân loại chứng cứ có ý nghĩa giúp cho việc lựa chọn, xây dựng được các quy định về chứng cứ được khoa học, phù hợp với thực tiễn. Đối với việc thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, việc phân loại chứng cứ có ý nghĩa giúp cho việc thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ được đúng đắn và nhanh chóng. Ở Việt Nam, các cách phân loại chứng cứ mang tính phổ biến bao gồm: Phân loại chứng cứ căn cứ vào nguồn chứng cứ; phân loại chứng cứ căn cứ vào hình thức tạo thành chứng cứ; phân loại chứng cứ căn cứ hình thức tồn tại của chứng cứ; phân loại chứng cứ căn cứ vào mối liên hệ giữa chứng cứ với các tình tiết, sự kiện cần chứng minh của vụ việc dân sự; phân loại chứng cứ căn cứ giá trị chứng minh của chứng cứ đối với vụ việc dân sự v.v…

Thứ nhất, phân loại chứng cứ căn cứ vào nguồn thu nhận chứng cứ.

Căn cứ vào nguồn thu nhận chứng cứ, chứng cứ được phân thành chứng cứ theo người và chứng cứ theo vật. Về ý nghĩa thực tiễn, cách phân loại này giúp xác định các phương pháp thu thập chứng cứ được phù hợp và việc đánh giá, sử dụng chứng cứ được chính xác hơn.

Chứng cứ theo người là chứng cứ rút ra từ lời khai của đương sự, người làm chứng. Như nêu ở trên, đương sự, người làm chứng là người tham gia vào sự việc, chứng kiến sự việc nên lời khai của họ thường chứa đựng những thông tin về vụ việc dân sự.Từ lời khai của họ có thể rút ra được các chứng cứ.Ví dụ:Trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa A và B, C là người làm chứng đã chứng kiến việc thỏa thuận giao kết hợp đồng vay tài sản giứa các bên và A đã trao tài sản cho vay cho B. C đã khai với Tòa án toàn bộ những gì mình đã biết về vụ việc thì những thông tin trong lời khai của C được sử dụng với tư cách là chứng cứ theo người.

Chứng cứ theo người có đặc điểm là phụ tuộc rất nhiều vào khả năng nhận thức, khả năng nhớ và phản ánh lại sự kiện của đương sự, người làm chứng. Đặc biệt, chúng phụ thuộc nhiều vào thái độ khách quan của đương sự, người làm chứng trong việc tham gia tố tụng. Tất cả những yếu tố này đòi hỏi Tòa án phải lựa chọn, áp dụng các phương pháp thu thập, nghiên cứu và đánh giá loại chứng cứ này cho phù hợp. Chẳng hạn, khi lấy lời khai của người làm chứng thì phải xác định những yếu tố về khả năng nhận thức, mối quan hệ của họ đối với đương sự v.v…“Đối với những chứng cứ được rút ra từ con người như đương sự, người làm chứng việc nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chúng rất phức tạp. Nét chung nhất của con người với nghĩa là nguồn chứng cứ bị chi phối rất lớn bởi yếu tố lợi ích, tâm lý, khả năng nhận thức, nhớ và phản ánh lại những gì họ thấy, sự quan tâm của họ đối với sự kiện v.v.. Tất cả những yếu tố này đều phải tính đến khi nghiên cứu, đánh giá và sử dụng các chứng cứ được rút ra từ đương sự, người làm chứng.”[77, tr.176]

Chứng cứ theo vật là những chứng cứ được rút ra từ những vật khác nhau của thế giới vật chất như vật chứng, tài liệu, giấy tờ có chứa đựng những tin tức về vụ việc dân sự.Ví dụ:Trong vụ án tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hỏa hoạn A gây ra. Để chứng minh cho yêu cầu của mình, B đã xuất trình cho Tòa án chiếc xe máy của mình bị cháy một phần trong vụ hỏa hoạn đó. Những thông tin, dấu vết do hậu quả của vụ hỏa hoạn để lại trên chiếc xe sẽ được Tòa án dùng để xác định các vấn đề của vụ án là chứng cứ theo vật.

Do là bản chất là những thông tin, dấu vết được lưu giữ bởi các vật, tài liệu, giấy tờ nên chứng cứ theo vật ít có thay đổi về giá trị chứng minh trong quá trình sử dụng. Vì vậy, trên thực tế việc thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ theo vật thường ít phức tạp hơn việc thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ theo người. “Thông thường, các chứng cứ được rút ra từ các vật, tài liệu việc nghiên cứu, đánh giá và sử dụng không mấy phức tạp vì chúng ít bị chi phối bởi ngoại cảnh.”[77, tr.176]Tuy vậy, những thông tin, dấu vết liên quan đến vụ việc dân sự trên các vật chứng, tài liệu, giấy tờ cũng có thể bị tẩy, xóa mất. Vì vậy, để bảo đảm sử dụng trong giải quyết vụ việc dân sự khi thu thập được các chứng cứ này phải bảo quản cẩn thận để không bị mất, giảm giá trị chứng minh.

Thứ hai, phân loại chứng cứ căn cứ vào hình thức tạo thành chứng cứ.

Căn cứ vào hình thức tạo thành chứng cứ, chứng cứ được phân thành chứng cứ gốc và chứng cứ thuật lại. Về ý nghĩa thực tiễn, cách phân loại này giúp cho việc thu thập, đánh giá chứng cứ được đầy đủ hơn. Có chứng cứ thuật lại mà chưa có chứng cứ gốc thì có thể căn cứ vào đó mà thu thập chứng cứ gốc.

Chứng cứ gốc là những thông tin, tình tiết, sự kiện thực tế đầu tiên về sự kiện cần chứng minh. Ví dụ: Bản Hợp đồng vay tài sản được lập giữa A và B khi hai bên thỏa thuận cho nhau vay tài sản. Chứng cứ gốc là nguồn đầu tiên về các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự nên việc phản ánh các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự sẽ rõ ràng hơn. Việc kiểm tra, xác minh và đánh giá chứng cứ gốc dễ dàng, ít phức tạp. Chứng cứ gốc có độ chính xác cao nên được tin cậy hơn trong việc sử dụng. Trên thực tế, thông thường trong một vụ việc mà có nhiều loại chứng cứ, có cả chứng cứ gốc và chứng cứ thuật lại thì chứng cứ gốc sẽ được quan tâm sử dụng nhất.

Chứng cứ thuật lại là chứng cứ được sao chép từ chứng cứ khác. Ví dụ: Bản sao Hợp đồng vay tài sản nói trên được lập giữa A và B khi hai bên thỏa thuận cho nhau vay tài sản. Như vậy, giữa chứng cứ gốc và chứng cứ thuật lại có khâu trung gian. Là chứng cứ, thì dù là chứng cứ gốc hay là chứng cứ thuật lại đều có giá trị chứng minh. Nếu trong vụ việc dân sự không có chứng cứ gốc thì Tòa án vẫn có thể căn cứ vào chứng cứ thuật lại để giải quyết vụ việc dân sự. Tuy vậy, nếu so với chứng cứ gốc thì độ tin cậy của chứng cứ thuật lại không được cao vì việc sao chép lại được thực hiện bởi con người cụ thể, phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của họ. Trong điều kiện công nghệ thông tin phát triển như ngày nay mà người sao chép không khách quan trong việc sao chép, cố tình làm sai lệch nội dung của chứng cứ thì những thông tin ban đầu của chứng cứ gốc được sao chép lại sẽ không còn chính xác nữa.“Tam sao thường hay thất bản”, do đó, khi sử dụng chứng cứ thuật lại cần phải đối chiếu với chứng cứ gốc và các loại chứng cứ khác.

Thứ ba, phân loại chứng cứ căn cứ vào mối liên hệ giữa chứng cứ với các sự kiện cần chứng minh.

Cứ căn cứ vào mối liên hệ giữa chứng cứ với các sự kiện cần chứng minh, chứng cứ được phân thành chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp.Về ý nghĩa thực tiễn, cách phân loại chứng cứ này làm cho việc đánh giá nghiên cứu, chứng cứ được toàn diện và đúng đắn.

Chứng cứ trực tiếp là những tin tức, tình tiết, sự kiện thực tế có mối liên hệ trực tiếp đến các tình tiết, sự kiện cần chứng minh trong vụ việc dân sự, căn cứ vào nó có thể xác định ngay có hay không có các tình tiết, sự kiện làm cơ sở cho các yêu cầu của đương sự. Mối quan hệ giữa chứng cứ với vụ việc dân sự là mối quan hệ trực tiếp nên dựa vào nó là có thể xác định được ngày các tình tiết, sự kiện cần chứng minh.Ví dụ:Bản Hợp đồng vay tài sản lập giữa A và B là chứng cứ trực tiếp chứng minh cho sự tồn tại của sự kiện giao kết hợp đồng làm cơ sở cho yêu cầu đòi nợ của A. Khi khởi kiện với những chứng cứ trực tiếp được xuất trình thì việc chấp nhận yêu cầu của đương sự sẽ có căn cứ hơn.

Chứng cứ gián tiếp là những tin tức, tình tiết, sự kiện thực tế không có mối liên hệ trực tiếp đến các tình tiết, sự kiện cần chứng minh trong vụ việc dân sự nhưng nếu căn cứ vào nó có thể rút ra được giả thiết về các tình tiết, sự kiện làm cơ sở cho các yêu cầu của đương sự. Mối quan hệ giữa chứng cứ gián tiếp với vụ việc dân sự là mối quan hệ gián tiếp vì vậy bản thân chúng đứng độc lập thì chỉ có giá trị đưa ra được giả thiết về sự kiện, tình tiết cần chứng minh. Tuy vậy, nếu được sử dụng kết hợp với các chứng cứ khác thì chứng cứ gián tiếp cũng giúp cho việc làm sang tỏ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự để giải quyết đúng vụ việc dân sự. Ví dụ: Trong vụ tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tai nạn giao thông đã nêu trên bị đơn chống lại nguyên đơn và cho rằng trong ngày xảy ra tai nạn bị đơn ở địa điểm khác. Để khẳng định điều này, bị đơn đã xuất trình hóa đơn thanh toán tiền nghỉ khách sạn, giấy đi công tác.Nếu những tài liệu này là xác thực thì có thể được sử dụng với tư cách là chứng cứ gián tiếp để giải quyết vụ án.

Thực tiễn xét xử của Tòa án đã cho thấy, trong nhiều vụ việc dân sự đều chỉ có các chứng cứ gián tiếp. Đặc biệt, tình trạng này khá phổ biến ở những tranh chấp phức tạp được Tòa án thụ lý giải quyết. Tuy chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp đều có giá trị chứng minh như nhau nhưng việc thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ gián tiếp mang tính phức tạp hơn việc việc thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trực tiếp. Giá trị chứng minh của chứng cứ gián tiếp phụ thuộc vào sự sử dụng kết hợp với các chứng cứ khác, do đó sẽ là sai lầm nghiêm trọng nếu xem xét, sử dụng chứng cứ gián tiếp một cách độc lập. Vì vậy, yêu cầu trong việc nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ gián tiếp là phải nghiên cứu, đánh giá và sử dụng cùng với nhiều chứng cứ khác.

Thứ tư, phân loại chứng cứ căn cứ giá trị chứng minh của chứng cứ đối với vụ việc dân sự.

Cứ căn cứ giá trị chứng minh của chứng cứ đối với vụ việc dân sự, chứng cứ được phân thành chứng cứ tuyệt đối và chứng cứ tương đối.Về ý nghĩa thực tiễn, cách phân loại này giúp cho việc nhận thức, đánh giá và sử dụng chứng cứ được thuận tiện hơn.

Chứng cứ tuyệt đối là các suy đoán do luật định, văn bản viết đã lập sẵn, lời thú nhận trước Tòa án. Đối với loại chứng cứ này có giá trị ràng buộc Tòa án sử dụng trong giải quyết vụ việc dân sự, bởi giá trị chứng minh của chúng đã được pháp luật định sẵn. Thực chất đây là sự suy đoán pháp lý về giá trị chứng minh của các thông tin, tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ việc dân sự. Ví dụ: Bản hợp đồng mua tài sản đã được công chứng hợp pháp. Đối với những sự kiện, tình tiết ghi trong văn bản đã được công chứng, chứng thực hợp pháp thì không phải chứng minh.Vì vậy, chúng có giá trị tuyệt đối. Về vấn đề này, theo ông Coulon thì: “Giá trị làm bằng của văn bản chứng thực được công nhận ở tất cả Tòa án, dù là tòa dân sự, tòa thương mại hay tòa lao động…Nếu trong văn bản chứng thực có những nội dung không phải là những nội dung mà công chứng viên đã xác minh thì chỉ có giá trị cho tới khi có chứng cứ ngược lại.”[37, tr.25]

Chứng cứ tương đối là những chứng cứ không có giá trị ràng buộc đối với Tòa án trong việc sử dụng mà Tòa án có toàn quyền trong việc xem xét, đánh giá giá trị chứng minh của chúng và sử dụng chúng. “Đặc trưng của chứng cứ tương đối là không có giá trị ràng buộc đối với Thẩm phán.”[37, tr.25] Các chứng cứ tương đối bao gồm lời khai của người làm chứng, các hành vi được xác minh tại Tòa án. Các chứng cứ này chỉ được sử dụng để chứng minh một hành vi pháp lý trong những trường hợp đặc biệt.

Như vậy, có thể nói rằng mỗi cách phân loại chứng cứ đều mang một nghĩa riêng.Tuy vậy, việc phân loại chứng cứ đều hướng đến một mục đích là làm sao cho việc sử dụng chứng cứ được hiệu quả hơn trong Tố tụng dân sự, để bảo đảm việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự.

Ngoài ra, để hỗ trợ thêm cho nhiều bạn học viên đang tìm kiếm tài liệu luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật, và những tài liệu liên quan đến luận văn thạc sĩ ngành Luật về Phân Loại Chứng Cứ Trong Tố Tụng Dân Sự, Luận văn Panda có chia sẻ nhiều tài liệu luận văn ngành luật chọn lọc, nhằm hỗ trợ các bạn học viên đang làm luận văn được tốt hơn. Các bạn có thể tham khảo nhiều bài luận văn tại đây.

===>>> KHO 99 + Luận Văn Thạc Sĩ Luật Tố Tụng Hình Sự

3. Xác định chứng cứ, bảo quản, bảo vệ và sử dụng chứng cứ trong tố tụng dân sự

“Xác định” trong tiếng Việt được hiểu là “qua nghiên cứu, tìm tòi, tính toán, biết được rõ ràng, chính xác” hay “đã được biết hoặc được định trước một cách hoàn toàn rõ ràng, chính xác”. Như vậy, xác định chứng cứ được hiểu với nghĩa là biết được một cách rõ ràng, chính xác chứng cứ.

Bảo quản chứng cứ là giữ gìn giá trị chứng minh của chứng cứ.Chứng cứ phải được bảo quản lâu dài, không để bị mất, thất lạc hoặc giảm giá trị chứng minh.Về nguyên tắc, người nào quản lý, lưu giữ chứng cứ có trách nhiệm bảo quản chứng cứ. Nếu chứng cứ đã được giao nộp cho Toà án thì toà án có trách nhiệm bảo quản chứng cứ. Trong trường hợp chứng cứ không thể giao nộp cho Toà án được thì người đang quản lý, lưu giữ chứng cứ đó có trách nhiệm bảo quản chứng cứ để giữ gìn giá trị chứng minh của chứng cứ.

Bảo vệ chứng cứ là chống lại các hành vi xâm phạm chứng cứ để giữ gìn giá trị chứng minh của chứng cứ. Việc bảo vệ chứng cứ được thực hiện trong trường hợp có hành vi tiêu huỷ, xâm phạm đến chứng cứ hoặc có nguy cơ chứng cứ bị tiêu huỷ. Tùy trường hợp cụ thể, Toà án ra quyết định bảo vệ chứng cứ theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết. Tuy nhiên, trong trường hợp chứng cứ đang bị tiêu huỷ, có nguy cơ bị tiêu huỷ hoặc sau này khó có thể thu thập được thì cần thiết phải áp dụng ngay các biện pháp bảo vệ chứng cứ cần thiết để bảo toàn chứng cứ.

Sử dụng chứng cứ trong tố tụng dân sự là dùng chứng cứ vào việc xác định các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự để giải quyết vụ việc dân sự. Hoạt động sử dụng chứng cứ được thực hiện sau các hoạt động chứng minh tuy vậy có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết vụ việc dân sự, bởi nếu việc sử dụng chứng cứ không đúng thì việc giải quyết vụ việc dân sự cũng không có cơ sở và thiếu chính xác.

DOWNLOAD FILE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chat Zalo
Chat Facebook
0932091562