Quản lý nhà nước về người có công với cách mạng

Rate this post

Sau đây là mẫu Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên Ngành Quản Lý Công: Quản lý nhà nước về người có công với cách mạng. Tài liệu này được Luận văn Panda sưu tầm từ nhiều nguồn luận văn thạc sĩ đạt điểm cao của các công trình học viên khóa trước. Hy vọng với nội dung bài viết Quản lý nhà nước về người có công với cách mạng. Sẽ hỗ trợ cho các bạn học viên đang làm Luận văn thạc sĩ ngành Quản lý Công có thêm nguồn tài liệu tham khảo.

Ngoài ra, để hỗ trợ thêm cho nhiều bạn học viên đang tìm kiếm tài liệu luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản Lý Công và những tài liệu liên quan đến luận văn thạc sĩ ngành Quản Lý Công về Quản lý nhà nước về người có công với cách mạng, Luận văn Panda có chia sẻ nhiều tài liệu luận văn ngành Quản Lý Công chọn lọc, nhằm hỗ trợ các bạn học viên đang làm luận văn được tốt hơn. Các bạn có thể tham khảo nhiều bài luận văn tại đây.

===>>> KHO 999 +  Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên Ngành Quản Lý Công

1.1. Ban hành chính sách, pháp luật về người công với cách mạng

Ưu đãi người có công với cách mạng là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, đó là sự đãi ngộ đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với người có công, là trách nhiệm và là sự ghi nhận, tôn vinh những cống hiến của họ đối với đất nước. Pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng không chỉ mang tính chính trị, kinh tế, xã hội mà còn mang tính nhân văn sâu sắc. Nó là sự thể hiện những truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, giáo dục cho thế hệ trẻ ý thức trách nhiệm, ý thức rèn luyện, phấn đấu vươn lên để cống hiến, hy sinh cho sự nghiệp gìn giữ, xây dựng và phát triển đất nước, bảo vệ những giá trị tốt đẹp, những thành quả to lớn mà cha ông ta đã ra sức gìn giữ. Đồng thời thể hiện được trách nhiệm của toàn xã hội trong việc thực hiện “đền ơn đáp nghĩa” đối với người có công với cách mạng. Vì vậy, chính sách đối với người có công là chính sách vô cùng quan trọng. Làm tốt chính sách đối với người có công sẽ góp phần vào sự ổn định xã hội, giữ vững thể chế và ngược lại.

Pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng là công cụ quan trọng trong việc quản lý xã hội trong lĩnh vực này, pháp luật về ưu đãi người có công nhằm thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người có công; tạo môi trường pháp lý thuận lợi để các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân nâng cao nhận thức, tham gia tích cực vào việc đền ơn đáp nghĩa, chăm lo cho người có công, tạo sự đồng thuận cao, góp phần bảo đảm công bằng xã hội và tạo điều kiện thuận lợi để người có công xây dựng cuộc sống, tiếp tục khẳng định vai trò trong cộng đồng xã hội.

Văn bản pháp luật đầu tiên về ưu đãi người có công với cách mạng là Sắc lệnh số 20/SL do Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ký ngày 16/2/1947, sau đó được bổ sung bằng Sắc lệnh số 242/SL ngày 12/10/1948, quy định tiêu chuẩn xác nhận thương binh, truy tặng “tử sỹ”, thực hiện chế độ “lương hưu thương tật” đối với thương binh, chế độ “tiền tuất” đối với gia đình liệt sỹ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lấy ngày 27/7 hàng năm là “Ngày thương binh toàn quốc” và kêu gọi các tầng lớp nhân dân phát huy tinh thần “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”, hết lòng giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sỹ về vật chất cũng như về tinh thần một cách chân thành và cảm động.

Từ năm 1986 đến nay, trong vấn đề ưu đãi đối với người có công, hệ thống pháp luật nước ta đã có những thay đổi quan trọng để phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội của thời kỳ đổi mới. Vấn đề ưu đãi người và gia đình có công với cách mạng đã trở thành nguyên tắc Hiến định và được ghi nhận trang trọng ở Chương V, Điều 67 của Hiến pháp năm 1992: “Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước. Thương binh được tạo điều kiện phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khỏe và đời sống ổn định. Những người và gia đình có công với nước được khen thưởng, chăm sóc”.

Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng năm 1994 (Pháp lệnh ưu đãi năm 1994) và Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” năm 1994. Đây là hai văn bản pháp luật nhằm thể chế hóa Hiến pháp năm 1992, đánh dấu sự tiến bộ trong hệ thống chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công, cùng với các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành hai pháp lệnh này tạo thành hệ thống pháp luật về ưu đãi người có công.

  • Năm 1998 và năm 2000, Pháp lệnh ưu đãi năm 1994 lại được sửa đổi cho phù hợp với điều kiện mới và quá trình cải cách hành chính. Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết và tổ chức thực hiện đưa pháp luật vào đời sống xã hội.
  • Năm 2005, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng thay thế Pháp lệnh ưu đãi năm 1994 vì không còn phù hợp, chưa thực sự công bằng, Chính phủ và các bộ cũng đã ban hành nghị định, thông tư hướng dẫn.
  • Năm 2017, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005.
  • Năm 2013, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”; Chính phủ đã ban hành Nghị định số 31/2013/NĐ-CP quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, Nghị định 56/2013/NĐ-CP quy định chi tiết hướng dẫn thi hành mộ số điều Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ VIệt Nam anh hùng” . Ngày 15/5/2013, Bộ LĐ-TB&XH ban hành Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH hướng dẫn về thủ tục lập hồ sơ, quản lý hồ sơ, thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân; các văn bản khác hướng dẫn thực hiện các chế độ ưu đãi đối với người có công.

Như vậy, đối với pháp luật về ưu đãi người có công đã có khoảng trên 100 văn bản được ban hành của cơ quan hành chính nhà nước dưới các dạng nghị định, quyết định, thông tư…

1.2. Bộ máy quản nhà nước đối với người công với cách mạng

Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng; Bộ LĐ-TB&XH chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện Quản lý nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng; các Bộ, ngành có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện Quản lý nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện Quản lý nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng trong phạm vi địa phương mình; cơ quan LĐ-TB&XH địa phương giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp trong việc thực hiện Quản lý nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng tại địa phương.[30]

Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BLĐTBXH-BNV ngày 02 tháng 10/2015 của Bộ LĐ-TB&XH, Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở LĐ-TB&XH thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Phòng LĐ-TB&XH thuộc Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quy định Sở LĐ-TB&XH cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước đối với người có công trên địa bàn tỉnh với nhiệm vụ và quyền hạn:

Trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh dự thảo quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm; chương trình, đề án, dự án, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước về người có công phạm vi quản lý nhà nước của Sở LĐ-TB&XH; hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật đối với người có công với cách mạng; hướng dẫn và tổ chức thực hiện quy hoạch hệ thống cơ sở xã hội nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng, các công trình ghi công liệt sĩ; quản lý các công trình ghi công liệt sĩ theo phân cấp trên địa bàn; chủ trì, phối hợp tổ chức công tác tiếp nhận và an táng hài cốt liệt sĩ; thông tin, báo tin về mộ liệt sĩ; thăm viếng mộ liệt sĩ, di chuyển hài cốt liệt sĩ; tham gia Hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh về giám định thương tật và tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật đối với người có công với cách mạng; quản lý đối tượng, hồ sơ đối tượng và kinh phí thực hiện các chính sách, chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng và thân nhân của họ; hướng dẫn và tổ chức các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”; quản lý và sử dụng Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” cấp tỉnh.

Phòng LĐ-TB&XH là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân cấp huyện Quản lý nhà nước về người có công trên địa bàn huyện. Nhiệm vụ và quyền hạn: Trình Uỷ ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước thuộc lĩnh vực Quản lý nhà nước được giao; tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sau khi được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực lao động, người có công và xã hội được giao; theo dõi thi hành pháp luật.

Giúp Uỷ ban nhân dân cấp huyện Quản lý nhà nước đối với tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, các hội và tổ chức phi chính phủ hoạt động trên địa bàn thuộc lĩnh vực người có công; hướng dẫn và tổ chức thực hiện quản lý các công trình ghi công liệt sĩ; hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về lĩnh vực người có công đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn. Phối hợp với các ngành, đoàn thể xây dựng phong trào toàn dân chăm sóc, giúp đỡ người có công với cách mạng.

Theo dõi, kiểm tra các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về lĩnh vực người có công. Ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ; xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữ phục vụ công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực người có công trên địa bàn. Thực hiện công tác thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định của Uỷ ban nhân dân cấp huyện và Sở LĐ-TB&XH.

Thông tư số 06/2017/TT-BNV ngày 30 tháng 10 năm 2017 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể và nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn quy định nhiệm vụ của công chức Văn hóa – xã hội tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân cấp xã trong các lĩnh vực lao động, thương binh, xã hội theo quy định của pháp luật. Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ tổ chức, theo dõi, tổng hợp, báo cáo về số lượng và tình hình biến động các đối tượng chính sách lao động, thương binh và xã hội; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện và chi trả các chế độ đối với người hưởng chính sách xã hội và người có công; quản lý nghĩa trang liệt sĩ và các công trình ghi công liệt sĩ trên địa bàn cấp xã.

Như vậy, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước đối với người có công với cách mạng được hình thành ở 4 cấp, trong đó Trung ương gồm Chính Phủ thống nhất quản lý nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng; Bộ LĐ-TB&XH chịu trách nhiệm trước Chính Phủ thực hiện Quản lý nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng; các Bộ ngành có liên quan có trách nhiệm thực hiện Quản lý nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng như: Bộ Quốc Phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo…

Cơ quan Quản lý nhà nước cấp tỉnh gồm Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện Quản lý nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh; Sở LĐ- TB&XH thực hiện quản lý nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng tại địa phương cùng với các ngành chức năng có liên quan, trong đó Sở LĐ-TB&XH đóng vai trò chính trong tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh.

Cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện gồm Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố, thị xã thực hiện Quản lý nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng trên địa bàn; Phòng LĐ-TB&XH giúp Uỷ ban nhân dân huyện thực hiện quản lý nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng trong địa bàn cấp huyện và các phòng có liên quan.

Cơ quan quản lý nhà nước cấp xã gồm Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn thực hiện quản lý nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng trên địa bàn; Công chức Văn hóa- Xã hội tham mưu Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện quản lý nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng trong địa bàn cấp xã.

Trên đây là đề tài Luận Văn Quản Lý Công: Luận Văn Quản Lý Nhà Nước Đối Với Người Có Công với Cách Mạng. Để hoàn thiện bài Luận văn thạc sĩ ngành Quản Lý Công về Quản lý nhà nước về người có công với cách mạng được hoàn thiện hơn, thì các bạn tham khảo thêm nội dung dưới đây của bài viết bao gồm đề cương chi tiết của luận văn. Ngoài ra, các bạn đang gặp khó khăn trong việc lựa chọn đề tài, hoặc chưa làm được đề cương và bài luận văn thạc sĩ của mình. Thì có thể tham khảo bảng giá viết thuê luận văn thạc sĩ và quy trình làm luận văn thạc sĩ tại đây.

===>>> Dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ giá rẻ

1.3. Bố trí nguồn lực thực hiện chính sách ưu đãi đối với người công

Chăm lo đời sống người có công với cách mạng vừa là nhiệm vụ chính trị quan trọng, vừa thể hiện tinh thần, truyền thống “uống nước nhớ nguồn” cao đẹp của dân tộc Việt Nam. Kết luận Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI “Một số vấn đề về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công, định hướng cải cách đến năm 2020” xác định: Nhà nước bảo đảm thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công; Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng quy định: “hàng năm nhà nước dành phần ngân sách đảm bảo thực hiện các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân của họ”.

Để làm tốt nhiệm vụ này, một trong những vấn đề cấp thiết là cần tăng cường và đa dạng hóa nguồn lực tài chính ưu đãi người có công với cách mạng. Chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công là đường lối, chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những người có công với đất nước nhằm mục đích ghi nhận công lao đóng góp, sự hy sinh cao cả của họ, đồng thời bù đắp phần nào đời sống vật chất và tinh thần đối với người có công và gia đình họ, ghi nhận lòng biết ơn của Đảng, Nhà nước, cộng đồng đối với người có công và thân nhân của họ, góp phần vào việc ổn định chính trị – xã hội của quốc gia.

Thực hiện trợ cấp, ưu đãi người có công đòi hỏi sự tham gia tích cực, chủ động của các ngành, các cấp, các tổ chức trong hệ thống chính trị đồng bộ từ cơ chế chính sách đến tổ chức, bộ máy triển khai thực hiện chính sách; nguồn lực đầu tư, bao gồm: nhân lực, khoa học, kỹ thuật, công nghệ, tài chính, trong đó nguồn lực tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng.

Hiện nay, ưu đãi người có công được thực hiện thông qua hai nguồn lực tài chính: từ nguồn ngân sách nhà nước và nguồn xã hội hóa. Theo định hướng cải cách chính sách trợ cấp ưu đãi người có công đến năm 2020, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm tổ chức thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công, đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp và người dân tham gia. Như vậy, có nghĩa là nguồn lực tài chính từ Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ yếu trong thực hiện chính sách ưu đãi người có công.

Ngân sách trung ương bảo đảm kinh phí để thực hiện các chế độ, chính sách đối với người có công chủ yếu hỗ trợ tài chính thông qua hình thức trợ cấp, phụ cấp, bảo hiểm y tế và các chế độ ưu đãi khác (chu cấp trang thiết bị, điều dưỡng, nhà ở, quà nhân dịp tết và ngày 27-7 hằng năm, ưu đãi giáo dục, công tác mộ, nghĩa trang…). Ngân sách địa phương trong điều kiện cụ thể mà các địa phương bổ sung để nâng cao mức trợ cấp hoặc tặng quà, cho các đối tượng chính sách ở địa phương trong dịp lễ, tết.

Cùng với nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước, chủ trương tạo tài chính từ xã hội hóa để thực hiện chính sách ưu đãi người có công đã được triển khai bước đầu và thu được kết quả tích cực. Năm phong trào tình nghĩa được triển khai trên toàn quốc, bao gồm: huy động quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”; tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa; xã, phường làm tốt công tác tình nghĩa; phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng; xây dựng và sửa chữa nhà tình nghĩa.

1.4. Tổ chức thực thi chính sách đối với người công với cách mạng

Thực hiện chính sách người có công với cách mạng là một khâu quan trọng trong chu trình chính sách người có công, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý của Đảng và nhà nước về chính sách đối với người có công thành hiện thực nhằm đạt mục tiêu chăm lo tốt cho người có công. Từ khi có chính sách người có công đến nay, tuy điều kiện đất nước từng thời kỳ có những khó khăn khác nhau, nhưng tất cả hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương đã nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của tổ chức thực hiện chính sách và đề cao trách nhiệm trong tổ chức thực hiện chính sách.

Trên cơ sở định hướng của Đảng, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, Chính phủ cùng với các Bộ ngành tích cực ban hành các Nghị định, Thông tư hướng dẫn kịp thời tổ chức thực hiện, đồng thời bố trí nguồn lực và phân bổ nguồn lực để thực hiện chính sách.

Các cấp chính quyền phối hợp cùng các tổ chức chính trị xã hội tích cực xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện, đã kịp thời tiến hành phổ biến, tuyên truyền chính sách; có sự phân công, phối hợp giữa các ngành, các cấp trong thực hiện chính sách. Trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách nếu gặp khó khăn đã chủ động đề xuất các cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung khắc phục những hạn chế, bất cập của chính sách. Đồng thời, đã chú ý đến công tác theo dõi, kiểm tra, đôn đốc đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện chính sách. Do việc tổ chức thực hiện tốt nên chính sách người có công của nhà nước đã đi vào cuộc sống, người có công thực hiện đầy đủ các chế độ, đời sống vật chất và tinh thần nâng cao.

1.5. Phân cấp quản nhà nước đối với người công với cách mạng

Phân cấp Quản lý nhà nước là sự phân định thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp chính quyền trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp giữa khối lượng và tính chất thẩm quyền với năng lực và điều kiện thực tế của từng cấp nhằm tăng cường chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của hoạt động Quản lý nhà nước.

Trong lĩnh vực người có công với cách mạng việc phân cấp được quy định trong các văn bản pháp luật; trong quy định hiện hành trách nhiệm của các cơ quan được xác định khá cụ thể Bộ LĐ-TB&XH hướng dẫn về thủ tục, hồ sơ, thẩm quyền xác nhận; hướng dẫn việc chi trả chế độ trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần; điều dưỡng, mua bảo hiểm y tế, trang cấp dụng cụ chỉnh hình; chế độ ưu đãi trong giáo dục đào tạo đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; quy hoạch, hướng dẫn thực hiện quy hoạch công trình ghi công liệt sĩ; quy định về công tác quản lý công trình ghi công liệt sĩ; chỉ đạo, hướng dẫn công tác tiếp nhận hài cốt liệt sĩ, xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin và thông tin về mộ liệt sĩ; hướng dẫn xây dựng mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của hệ thống cơ sở xã hội nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng; tiêu chuẩn, chính sách đối với người làm công tác quản trang tại nghĩa trang liệt sĩ; chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức chính trị -xã hội tổ chức các phong trào đền ơn đáp nghĩa; quản lý Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”;

Tuyên truyền, vận động, tổng kết công tác thi đua, khen thưởng, nhân rộng điển hình tiên tiến trong lĩnh vực người có công; chủ trì, phối hợp với các Bộ có liên quan quy định chế độ, định mức, phương thức trang cấp dụng cụ chỉnh hình và phương tiện trợ giúp cho người có công với cách mạng; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo việc thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng; thực hiện hợp tác quốc tế về người có công với cách mạng; thực hiện công tác thống kê về người có công với cách mạng[10].

Bộ Quốc phòng hướng dẫn về trình tự, thủ tục xác nhận, tổ chức thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng thuộc Bộ Quốc phòng quản lý; hướng dẫn và tổ chức thực hiện việc tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ; điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật về hành vi vi phạm pháp luật trong việc xác lập hồ sơ và thực hiện chế độ ưu đãi người có công thuộc Bộ Quốc phòng quản lý[10].

Bộ Công an hướng dẫn về trình tự, thủ tục xác nhận, tổ chức thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng thuộc Bộ Công an quản lý; điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật về hành vi vi phạm pháp luật trong việc xác lập hồ sơ và thực hiện chế độ ưu đãi người có công[10].

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn việc lập, phân bổ dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng; hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc miễn, giảm thuế đối với người có công với cách mạng và hỗ trợ cơ sở vật chất, nguồn vốn cho các cơ sở sản xuất kinh doanh; bảo đảm ngân sách thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng; kiểm tra, thanh tra việc sử dụng ngân sách thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng[10].

Bộ Y tế hướng dẫn, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, bảo hiểm y tế đối với người có công với cách mạng; ban hành danh mục bệnh tật, dị dạng, dị tật do nhiễm chất độc hóa học để xác nhận người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học; hướng dẫn, quy định về tiêu chuẩn thương tật, bệnh tật, dị dạng, dị tật và tổ chức khám, giám định đối với thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và con của người có công; hướng dẫn phương pháp tổng hợp tỷ lệ trong khám giám định tỷ lệ suy giảm khả năng lao động[10].

Bộ Xây dựng chủ trì xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành chính sách hỗ trợ về nhà ở đối với người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ bảo đảm phù hợp với hoàn cảnh, công lao đóng góp của từng nhóm đối tượng và khả năng ngân sách[10].

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện chế độ ưu tiên, ưu đãi trong sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp bằng các hình thức ưu tiên giúp đỡ về giống cây trồng, vật nuôi, thủy lợi phí, chế biến nông sản, lâm sản, áp dụng khoa học – công nghệ trong sản xuất; ưu đãi trong khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và khuyến diêm và phát triển ngành nghề ở nông thôn đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ[10].

Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính bố trí nguồn lực thực hiện chế độ ưu đãi quy định tại Nghị định này[10].

Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện chế độ ưu đãi đối với người sử dụng đất là người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ; đất dành riêng cho các công trình ghi công liệt sĩ, các cơ sở sản xuất, kinh doanh của thương binh, bệnh binh, cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng, chỉnh hình, phục hồi chức năng cho thương binh, bệnh binh và những người có công với cách mạng khác[10].

Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn thực hiện việc ưu tiên trong tuyển sinh, đào tạo đối với người có công với cách mạng và con của họ tại các cơ sở thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. hướng dẫn các trường học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân tham gia chăm sóc, giữ gìn các công trình ghi công liệt sĩ[10].

Bộ Nội vụ hướng dẫn thủ tục tặng Kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù, đày và khen thưởng đối với người có công với cách mạng[10].

Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng trong phạm vi địa phương mình. Trên cơ sở chính sách, pháp luật về người có công, trong điều kiện kinh tế- xã hội của địa phương, Ủy ban nhân dân trình Hội đồng nhân dân cùng cấp ban hành các chính sách khác ngoài cấp trên quy định thực hiện chăm lo người có công. Tổ chức xây dựng bộ máy tổ chức, cụ thể hóa chủ trương, ban hành chính sách riêng của địa phương, bố trí nguồn lực, tổ chức thực thi tốt các quy định của pháp luật về người có công, chăm sóc cho người có công trên địa bàn có cuộc sống tốt nhất[10].

1.6. Giám sát, kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về ưu đãi người công; giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trong việc thực hiện chính sách đối với người công

Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý.

Kiểm tra là hoạt động thường xuyên của từng cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của chính mình. Qua kiểm tra các cơ quan, tổ chức đánh giá đúng mực việc làm của mình, từ đó đề ra chủ trương, biện pháp, phương hướng hoạt động tiếp theo một cách hợp lý hơn. Trong trường hợp này, kiểm tra mang ý nghĩa xem xét, nhìn lại việc làm của chính mình để tự điều chỉnh, hay tìm biện pháp thực hiện nhiệm vụ tốt hơn hiệu quả hơn.

Thanh tra là sự xem xét, đánh giá và xử lý việc thực hiện pháp luật của tổ chức, cá nhân do tổ chức, người có thẩm quyền thực hiện theo trình tự pháp luật quy định nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể tổ chức, cá nhân khác.

Giám sát, kiểm tra, thanh tra là một trong những hoạt động quan trọng trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Trong tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng, thông qua kiểm tra, thanh tra để phát hiện ra những khiếm khuyết của chế độ chính sách pháp luật để đề xuất điều chỉnh; phát hiện những sai phạm trong thực thi chính sách để xử lý, điều chỉnh kịp thời.

Khiếu nại được hiểu là: “việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” (Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011).

Tố cáo được hiểu: “là việc công dân theo thủ tục báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” (Khoản 1, Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011).

Giải quyết khiếu nại, tố cáo là việc xác minh, kết luận và ra quyết định của người giải quyết khiếu nại, là việc xác minh, kết luận về nội dung và quyết định xử lý của người giải quyết tố cáo.

Trong lĩnh vực ưu đãi đối với người có công với cách mạng, những vụ việc liên quan đến khiếu nại, tố cáo về những sai phạm trong thực hiện chế độ, chính sách, đến việc xác nhận, công nhận người có công với cách mạng ảnh hưởng rất lớn đến trật tự xã hội, tư tưởng chính trị, đặc biệt là ảnh hưởng đến việc giáo dục truyền thống cách mạng đối với thế hệ trẻ và quan trọng hơn hết sẽ làm mất lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, vào đội ngũ cán bộ, công chức. Vì vậy, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trong thực hiện chính sách đối với người có công phải được giải quyết dứt điểm ngay từ cơ sở, đúng thời gian quy định, không để xảy ra tình trạng khiếu nại, tố cáo tồn đọng, kéo dài.

Ngoài ra, để hỗ trợ thêm cho nhiều bạn học viên đang tìm kiếm tài liệu luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản Lý Công, và những tài liệu liên quan đến luận văn thạc sĩ ngành Quản Lý Công về Quản lý nhà nước về người có công với cách mạng, Luận văn Panda có chia sẻ nhiều tài liệu luận văn ngành Quản Lý Công chọn lọc, nhằm hỗ trợ các bạn học viên đang làm luận văn được tốt hơn. Các bạn có thể tham khảo nhiều bài luận văn tại đây.

===>>>  KHO 99 +  Luận Văn Quản Lý Nhà Nước

DOWNLOAD FILE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Chat Zalo
Chat Facebook
0932091562