Vai trò biện pháp bảo đảm hoạt động cho vay của ngân hàng

Nội dung chia sẻ đến các bạn học viên đang tìm hiểu về hoạt động cho vay ngân hàng, Luận văn Panda đã thu thập được những thông tin chính xác, từ các nguồn tài liệu chính thống để chia sẻ đến các bạn học viên đang gặp khó khăn trong việc làm bài luận văn. Nội dung bao gồm những Vai trò của thực hiện các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.

Ở Việt Nam các biện pháp bảo đảm nói chung đã hình thành từ rất sớm. Nhìn lại lịch sử pháp luật về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự nước ta, có thể nói loại hình giao dịch này được ghi nhận và sử dụng rộng rãi trong đời sống dân sự. BLDS Bắc kỳ 1936, Trung kỳ 1939, Nam kỳ 1910; BLDS, Bộ luật Thương mại của Việt Nam Cộng Hòa…đều có quy định về các biện pháp bảo đảm thi hành nghĩa vụ trong giao lưu dân sự và thương mại, đặc biệt là các biện pháp bảo đảm bằng tài sản. Cho đến thời kỳ sau khi đất nước thống nhất, bước vào giai đoạn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa các giao dịch dân sự nói chung và các giao dịch trong hoạt động ngân hàng nói riêng phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Các Ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Với đối tượng kinh doanh đặc thù là tiền tệ mang tính rủi ro cao, việc áp dụng các biện pháp bảo đảm trong hoạt động của các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam càng trở nên cấp bách bởi một số vai trò sau đây:

Th nht, các biện pháp bảo đảm là cơ sở bảo đảm an toàn cho hoạt động của các Ngân hàng thương mại. Trong cơ chế thị trường, sự ra đời và phát triển của các loại hình ngân hàng, các tổ chức tín dụng cùng với tính đa dạng của các hoạt động và các hình thức tín dụng đã tạo nên một thị trường tín dụng sôi động. Nhưng điều đó cũng chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro có thể xảy ra với các ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng, mà khả năng ngăn ngừa, chống đỡ rủi ro kém. Hơn nữa ngành ngân hàng là một ngành kinh tế nhạy cảm, hoạt động ngân hàng với bản chất của nó, chịu ảnh hưởng của rất nhiều loại rủi ro. Rủi ro tín dụng là đặc trưng tiêu biểu nhất, dễ xảy ra nhất trong hoạt động ngân hàng. Rủi ro trong hoạt động tín dụng là việc người đi vay không có khả năng hoàn trả được lãi hoặc gốc một cách đầy đủ, đúng hạn. Tình trạng này có thể do nhiều nguyên nhân, chủ quan và khách quan, trực tiếp và gián tiếp. Nhưng cho dù nguyên nhân nào đi chăng nữa, thì cuối cùng là người đi vay không thực hiện được các cam kết và nghĩa vụ trả nợ; không có trả năng trả nợ do năng lực tài chính suy giảm. Tuy nhiên, bên cạnh đó thực tế cũng xảy ra một số trường hợp người đi vay có khả năng tài chính nhưng chây ỳ không trả nợ, hoặc tìm cách lừa đảo chiếm đoạt vốn vay ngân hàng. Chính vì vậy rủi ro trong hoạt động tín dụng cũng rất phức tạp và đa dạng.

Ngoài ra, theo quy định tại Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng (sau đây gọi là TCTD) đối với khách hàng [Quyết định số 20/VBHN-NHNN ngày 22/5/2014 của Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng], cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Tín dụng hoàn toàn khác các nghiệp vụ tài trợ dưới dạng cấp vốn của Nhà nước cho doanh nghiệp. Hoạt động tín dụng là hoạt động đa dạng, là một loại hình kinh doanh tiền tệ phức tạp. Tính phức tạp của nó chính là đối tượng kinh doanh – tiền tệ. Có nhiều quan điểm cho rằng, quyền cho vay là của ngân hàng, TCTD, còn quyền trả nợ “thực tế” là của người đi vay. Chính vì vậy đòi hỏi ngân hàng phải tìm mọi cách để kiểm soát được khả năng trả nợ “ thực tế” đó của khách hàng hoặc dự đoán khả năng đó. Quan hệ tín dụng ngân hàng là được thiết lập trên nguyên tắc bình đẳng, thỏa thuận giữa TCTD và khách hàng, là sự cam kết thỏa thuận bằng các điều khoản thi hành. Hình thức pháp lý quan hệ này là hợp đồng tín dụng ngân hàng. Sự cam kết này chính là cơ sở pháp lý cơ bản để thực hiện các nghĩa vụ của các bên tham gia hoạt động tín dụng. Nó là cơ sở pháp lý để thực hiện các bảo đảm tín dụng. Ngoài ra, các chủ thể của hợp đồng tín dụng còn có những cam kết khác, bằng hành vi hay năng lực kinh tế, thể hiện dưới các hình thức bảo đảm nợ vay, có thể bằng vật chất hay uy tín, như các tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh. Thế nhưng trên thực tế, mặc dù các khoản tín dụng giữa ngân hàng và người đi vay đều được xác lập theo những điều khoản của hợp đồng tín dụng, nhưng tình trạng vi phạm cam kết đó xảy ra khá phổ biến, kể cả trong trường hợp người đi vay có năng lực tài chính để thực hiện các cam kết đó.

Vì những lý do trên, hầu hết các nước đều có quy định pháp luật cụ thể và an toàn trong hoạt động tín dụng, theo đó các TCTD khi cấp tín dụng đều phải tuân thủ những điều kiện nhất định đó là điều kiện vay vốn. Thông thường, để có thể tránh những rủi ro do không trả được nợ (hoặc không trả nợ) của người đi vay, các ngân hàng quy định các điều kiện vay vốn, trong đó điều kiện đảm bảo tiền vay được xem là quan trọng nhất. Bản chất của bảo đảm tiền vay là sử dụng những giá trị của những tài sản làm đảm bảo để trả nợ thay cho các khoản vay mà người vay đã dùng vào sản xuất kinh doanh nhưng không có khả năng trả nợ ngân hàng. Chính vì vậy, bên cho vay có thể thu hồi được nợ ngay cả trong trường hợp bên đi vay không có khả năng trả được nợ. Điều này có nghĩa là tài sản bảo đảm tiền vay nếu được xử lý sau một khoảng thời gian hợp lý kể từ ngày nợ đến hạn nhưng người vay không có khả năng trả nợ, sẽ vừa có lợi cho TCTD cho vay, vừa có lợi cho cả bên bảo đảm.

Thứ hai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền. Các NHTM Việt Nam chủ yếu là cho vay. Các tổ chức này cho vay dựa trên cơ sở nguồn vốn huy động là chủ yếu. Điều này có nghĩa là, nguồn vốn cho vay của các ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn “ đi vay”, bởi lẽ các tổ chức này hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc “ đi vay” để “ cho vay”, tức là không (hoặc ít) cho vay tiền của bản thân mình mà nó sử dụng nguồn vốn huy động cho vay là chủ yếu. Trong số nguồn vốn huy động thì tiền gửi lại chiếm tỷ lệ đáng kể. Chính vì vậy, trách nhiệm hàng đầu của các ngân hàng là bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, tránh tình trạng rút tiền đồng loạt – nguy cơ dẫn đến sự phá sản của ngân hàng, lung lay hệ thống ngân hàng. Mặc dù phần lớn các ngân hàng đều dự tính trước những rủi ro có thể xảy ra, những rủi ro này phải được kiểm soát chặt chẽ để bảo vệ số tiền gửi của khách hàng. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động kinh doanh của ngân hàng đã chứng minh rằng không phải lúc nào cũng kiểm soát được rủi ro. Có những rủi ro tín dụng khả kháng được, nhưng cũng có những rủi ro bất khả kháng, nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng. Nếu một khoản cho vay nào đó bị thất thoát (không thu hồi được) thì trước tiên ngân hàng phải sử dụng nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền. Nếu không đủ nguồn vốn để trả cho người gửi tiền thì ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, thậm chí phá sản. Do đó, sự an toàn là một vấn đề cần xem xét trước tiên đới với moị khoản vay. Ngoài việc xây dựng quy trình cho vay khoa học chặt chẽ, các tổ chức cho vay còn áp dụng các biện pháp phòng ngừa để giảm thiểu rủi ro. Các biện pháp bảo đảm trong hoạt động cho vay là một trong các biện pháp đó và gián tiếp đóng vai trò bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền. Có lẽ chính vì vậy mà pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều có quy định về biện pháp bảo đảm cho nghĩa vụ trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng. Ngày 31/12/2018, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Thông tư số 48/2018/TT-NHNN quy định về tiền gửi tiết kiệm (Thông tư 48) và Thông tư 49/2018/TT-NHNN về tiền gửi có kỳ hạn (Thông tư 49) nhằm đảm bảo an toàn giao dịch cho cả TCTD và người gửi tiền, đồng thời đảm bảo lợi ích hợp pháp của pháp nhân, cá nhân có nhu cầu gửi tiền khi có nguồn tiền nhàn rỗi hoặc thu nhập hợp pháp.

Thứ ba, giúp thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng. Trong thực tế, không phải bao giờ khi có vi phạm nghĩa vụ, thì các bên vi phạm cũng yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Hơn nữa, các biện pháp cưỡng chế không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả. Như vậy, khi nghĩa vụ không được bảo đảm bằng tài sản thì người có nghĩa vụ rất dễ lẩn tránh việc thực hiện nghĩa vụ, đồng thời, việc thực hiện lợi ích của người có quyền rất mong manh. Chính vì vậy, sự cần thiết phải áp dụng các biện pháp bảo đảm được lý giải bởi mối quan tâm của người có quyền với người có nghĩa vụ trong việc thực hiện nghĩa vụ, nếu người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ thì người có quyền được bồi thường. Đặc biệt, thông qua các biện pháp bảo đảm, người có quyền muốn thức tỉnh người có nghĩa vụ phải hoàn thành nghĩa vụ đúng thời hạn bởi những hậu quả bất lợi sẽ xảy ra đối với người có nghĩa vụtrong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ (như tài sản bảo đảm sẽ bị phát mại). Trong lĩnh vực hoạt động tín dụng của ngân hàng, các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ đóng vai trò to lớn trong việc cấp tín dụng, vừa giảm nguy cơ thiệt hại, vừa giảm chi phí giao dịch cho chủ thể có bảo đảm. Có thể nói các biện pháp bảo đảm là cơ sở để ngân hàng bảo toàn và phát triển vốn trong hoạt động tín dụng của mình.

Thứ tư, bảo vệ sự an toàn và ổn định của hệ thống ngân hàng. Ngân hàng trung ương của bất kỳ quốc gia nào cũng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng đều có nhiệm vụ bảo đảm hệ thống ngân hàng hoạt động một cách có hiệu quả, an toàn và ổn định. Nếu có sự thất thoát trong hoạt động tín dụng nào đó, dù chỉ ở một ngân hàng và chỉ ở một mức nào đó cũng sẽ đe dọa đến tính an toàn và ổn định của cả hệ thống. Như đã phân tích, hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu của các ngân hàng thương mại. Vì lẽ đó mà Ngân hàng trung ương đều quy định mọi TCTD phải tuân thủ quá trình phân tích rủi ro trước khi cho vay. Các biện pháp bảo đảm tiền vay là vấn đề vô cùng quan trọng trong hoạt động của các TCTD, bởi lẽ đây chính là các biện pháp hạn chế rủi ro khi TCTD cho khách hàng vay vốn. Việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay không phải là cái đích mà các bên trong quan hệ tín dụng ngân hàng mong muốn hướng tới, song trong điều kiện nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay thì có lẽ đây là biện pháp hữu hiệu nhất để bảo toàn vốn vay của các TCTD. Trong trường hợp khách hàng rơi vào tình trạng mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán, ngân hàng có thể tránh được mọi hậu quả của việc liên quan đến việc phá sản của khách hàng thông qua tài sản bảo đảm tiền vay. Nếu tài sản bảo đảm tiền vay có tính thanh khoản cao thì việc thu hồi vốn từ việc phát mại tài sản hoàn toàn bảo đảm, thậm chí có những trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản thừa để trả nợ thì số tiền thừa này có thể chia cho các chủ nợ khác của khách hàng. Còn nếu một khoản vay không có bảo đảm thì trong trường hợp khách hàng không trả nợ khi đến thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, ngân hàng sẽ đứng chung với các chủ nợ không có bảo đảm khác và chỉ nhận được một số phần vốn đã bỏ ra cho khách hàng. Ngoài ra, nhờ có bảo đảm tiền vay mà ngân hàng có thể thu hồi vốn mà không phụ thuộc vào việc khách hàng có ý định trả nợ hay không.

Thứ năm, các biện pháp bảo đảm trong hoạt động của các ngân hàng thương mại có vai trò quan trong việc hạn chế tranh chấp xảy ra, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ tín dụng ngân hàng. Các biện pháp bảo đảm được thể hiện bằng các hợp đồng cầm cố, thế chấp…gọi là các giao dịch bảo đảm. Các bên trong hợp đồng tín dụng ngân hàng có quyền thỏa thuận áp dụng biện pháp bảo đảm cũng như thỏa thuận các điều khoản trong các giao dịch bảo đảm. Các biện pháp bảo đảm này là căn cứ pháp lý quan trọng để giải quyết tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tín dụng ngân hàng. Thêm vào đó, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên cũng luôn được Nhà nước tôn trọng và bảo vệ. Do đó, các tranh chấp được hạn chế, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các ngân hàng cũng như sự phát triển của kinh tế – xã hội của đất nước.

Thứ sáu, trong bối cảnh nền kinh tế – tài chính của Việt Nam đang từng bước được xây dựng và hoàn thiện thì những yếu kém và tính không rõ ràng, minh bạch trong cơ chế tài chính, kiểm toán hiện hành của nước ta cũng là điều khó tránh. Vì vậy, khi tiến hành cấp tín dụng, các ngân hàng không thể dựa hoàn toàn vào các bản báo cáo tài chính, phương án kinh doanh – trả nợ …của khách hàng. Thậm chí ngay cả khi khẳng được rằng tình hình tài chính của một khách hàng là tốt, phương án kinh doanh khả thi nhưng trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường thì vẫn có thể xẩy ra những rủi ro không lường trước được, dẫn đến khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ với ngân hàng. Đó là chưa kể đến việc các khách hàng không thiện chí thực hiện nghĩa vụ, thậm chí lạm dụng tín nhiệm, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của ngân hàng. Những điều này buộc các ngân hàng phải tính đến giải pháp chắc chắn hơn, đó là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của khách hàng.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chat Zalo
Chat Facebook
0932091562