Vị trí, vai trò của quản lý nhà nước về y tế hiện nay là gì?

Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Công
Rate this post

Vị trí, vai trò của quản lý nhà nước về y tế hiện nay là gì? Và những quan điểm, định hướng trong quản lý nhà nước về y tế; Phương thức quản lý nhà nước về y tế. Để thực hiện tốt việc quản lý nhà nước về y tế cấp xã cần nhiều giải pháp đồng bộ từ đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và các biện pháp, giải pháp của từng địa phương. Các biện pháp, giải pháp không thể thực hiện một cách riêng lẻ mà là sự kết hợp nhuần nhuyễn từng giải pháp sao cho phù hợp với đặc thù của địa phương trong từng giai đoạn lịch sử nhất định nhằm đạt được mục tiêu hiệu lực và hiệu quả.

Ngoài ra, để hỗ trợ thêm cho nhiều bạn học viên đang tìm kiếm tài liệu luận văn chuyên ngành thạc sĩ Quản Lý công, và những tài liệu liên quan đến quản lý nhà nước, Luận văn Panda có chia sẻ nhiều tài liệu luận văn chọn lọc nhằm hỗ trợ các bạn học viên đang làm luận văn được tốt hơn. Các bạn có thể tham khảo nhiều bài luận văn tại đây.

===>>> Luận Văn Quản Lý Nhà Nước

1. Vị trí, vai trò của quản lý nhà nước về y tế

Con người vừa là chủ thể của xã hội, vừa là mục tiêu phát triển của xã hội đồng thời con người cũng là nguồn lực quý nhất quyết định sự phát triển của mỗi địa phương và của đất nước. Con người là sự kết hợp giữa thể lực và trí tuệ. Hai yếu tố này gắn bó hữu cơ với nhau, tạo nên bản thân con người. Song giữa hai yếu tố đó thì thể lực của con người là cơ sở, là điều kiện để phát huy trí tuệ của họ tạo ra của cải vật chất đưa xã hội phát triển không ngừng. Hay có thể nói sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội vì vậy bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân vừa là hoạt động nhân đạo, vừa là hoạt động trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, phát triển y tế là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và nhà nước ta.

Đảng và Nhà nước luôn quan tâm kiện toàn hệ thống y tế. Tháng 01/1993, Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã ra Nghị quyết về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Nghị quyết đã nêu 7 giải pháp lớn, trong đó có giải pháp chấn chỉnh hệ thống chăm sóc sức khỏe, coi củng cố y tế cơ sở là nhiệm vụ cấp bách hiện nay.

Qua những năm đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường đã tác động mạnh mẽ tới ngành y tế, và ảnh hưởng đến các hoạt động bảo vệ và chăm sóc sức khỏe. Sự ảnh hưởng này càng biểu hiện rõ khi chúng ta đem nhìn nhận trong sự đối lập giữa mục đích vì lợi nhuận của kinh tế thị trường và mục đích nhân đạo của ngành y tế; giữa giá các dịch vụ khám chữa bệnh với y đức của người thầy thuốc; giữa trách nhiệm và lợi ích của mỗi cán bộ y tế. Có thể thấy đây là những thách thức lớn đặt ra để giải quyết và cân bằng giữa yếu tố kinh tế và yếu tố nhân văn của bản chất xã hội chủ nghĩa mà nước ta đang theo đuổi. Từ tất cả các khác biệt trên cho thấy việc quản lý nhà nước về y tế là việc làm cần thiết, có vai trò quan trọng để phát triển ngành y tế Việt Nam theo đúng định hướng của Đảng và nhà nước đề ra, đảm bảo tính công bằng trong cung cấp, tiếp cận các dịch vụ y tế và nâng cao hiệu quả và phát triển của các dịch vụ y tế phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương và đất nước.

Có thể thấy vai trò của Quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế thể hiện ở hai mặt sau:

Một là đảm bảo sự công bằng trong xã hội: Xã hội ngày càng phát triển thì yêu cầu đảm bảo sức khỏe tốt cho tất cả mọi người ngày càng được quan tâm. Mặt khác người dân khỏe mạnh tạo ra một nguồn nhân lực có chất lượng, năng suất lao động cao, giảm các chi phí an sinh xã hội cho nhà nước. Vì vậy dịch vụ y tế phải được coi là một hàng hóa đặc biệt. Mọi người dân đều có quyền tiếp cận các dịch vụ tế và được hưởng một mức chăm sóc sức khỏe tối thiểu như nhau. Mặt khác nhiều loại dịch vụ y tế mang tính công cộng thuần túy, vì vậy sẽ không có tổ chức hay cá nhân nào có thể đảm nhiệm việc cung ứng các dịch vụ đó. Chỉ có nhà nước với quyền lực, nguồn lực của mình mới có thể đảm bảo cho mọi người dân được công bằng trong tiếp cận các dịch vu y tế, cũng nhưng chỉ có nhà nước mới quan tâm đầy đủ đến lợi ích của cả cộng đồng.

Hai là, đảm bảo tính hiệu quả của việc cung cấp các dịch vụ y tế: xuất phát từ nguyên tắc hoạt động của y tế là không phải vì mục tiêu lợi nhuận nên để đảm bảo các cơ sở y tế không phát triển một cách tự phát thành các đơn vị kinh doanh chạy theo lợi nhuận, vì vậy phải có sự kiểm soát của nhà nước đối với các cơ sở y tế.

Mặt khác các dịch vụ y tế là các dịch vụ không có tính so sánh, nhưng lại có ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng con người vì vậy nhà nước cần đứng ra đảm bảo chất lượng, hạn chế tối thiểu các rủi ro từ dịch vụ y tế của các cơ sở y tế bằng những tiêu chuẩn, quy trình thống nhất chặt chặt chẽ giúp cho người dân an tâm khi tiếp cận các dịch vụ y tế.

Ngoài ra, để hỗ trợ thêm cho nhiều bạn học viên đang tìm kiếm tài liệu luận văn chuyên ngành thạc sĩ công, và những tài liệu liên quan đến quản lý công, Luận văn Panda có chia sẻ nhiều tài liệu luận văn chọn lọc nhằm hỗ trợ các bạn học viên đang làm luận văn được tốt hơn. Các bạn có thể tham khảo nhiều bài luận văn tại đây.

====>>>> KHO 999 +  Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Công

2. Quan điểm và định hướng trong quản lý nhà nước về y tế.

Đổi mới và hoàn thiện hơn nữa hệ thống y tế Việt Nam theo hướng Công bằng – Hiệu quả – Phát triển, bảo đảm an sinh xã hội.

Trong những năm tới kiên trì, nỗ lực nhằm đạt mục tiêu ngành y tế đề ra bảo đảm chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngang tầm tiên tiến khu vực (top 3), và quốc tế (top 20). Hội nhập với thế giới, thể hiện giảm nhập – tăng xuất, sớm đạt thăng bằng nhập – xuất, tiến tới có xuất siêu, trên cả 4 mũi giáp công: dịch vụ y; nhân lực cao y – dược; Dược liệu, Dược phẩm; Trang thiết bị y tế.

Nhấn mạnh đầu tư cho y tế là một đầu tư phát triển, thưc hiện bản chất của chế độ. Nhà nước đảo đảm đầu tư cho y tế khoảng 50% trong tổng chi y tế. Thực hiện Nhà nước và Nhân dân cùng làm. Tăng mức đầu tư từ Ngân sách, đồng thời ra sức vận động tăng thu hút các nguồn lực xã hội, bao gồm tư nhân, phi lợi nhuận, thiện nguyện, cả trong và ngoài nước.

Thực hiện chăm sóc sức khỏe toàn diện. Gắn phòng bệnh với chữa bệnh, phục hồi chức năng và tập luyện thể dục thể thao nâng cao sức khỏe. Tuy nhiên tập chung hơn nữa theo định hướng phòng bệnh hơn chữa bệnh, tập trung làm tốt hơn nữa công đoạn y tế dự phòng. Bảo đảm nguồn lực cho y tế dự phòng không ít hơn 30% tổng nguồn lực. Có tổ chức mạng lưới làm y tế dự phòng phủ khắp các huyện, xã. Bố trí đủ lực lượng mạnh cho các trọng điểm: cửa khẩu, tụ điểm thương mại, đầu mối giao thông, các vùng “trũng” nguy cơ ô nhiễm môi trường, tai nạn thương tích, chịu ảnh hưởng biến đổi khí hậu, …

Về công nghệ y tế: Phát triển y tế công nghệ cao, tiếp cận trình độ tiên tiến của khu vực và quốc tế. Luôn coi trọng kết hợp Tây y – Đông y. Đến 2015, tất cả các tỉnh đều có Bệnh viện y học cổ truyền. Chỉ đạo kết hợp điều trị y học cổ truyền xuyên suốt đến tất cả các huyện, xã. Theo định hướng “Nam dược trị Nam nhân”, nhấn mạnh, coi trọng nghiên cứu khoa học y tế trong nước, cả y học hiện đại và y học cổ truyền. Đạt tới nhiều công nghệ, bài thuốc tiên tiến nhập khẩu được Việt Nam hoá; đồng thời có nhiều công nghệ, bài thuốc do sáng tạo Việt Nam, phục vụ hiệu quả phòng bệnh và chữa bệnh cho người Việt Nam.

Thu hẹp khoảng cách chênh lệch hưởng thụ dịch vụ y tế giữa các vùng miền, nhóm dân cư. Tích cực tăng cường năng lực tuyến y tế cơ sở. Hạn chế, sớm tiến tới loại trừ các trường hợp chuyển tuyến không cần thiết.

Triển khai mạnh mẽ thực hiện Luật Bảo hiểm y tế tạo thế cân đối bền vững của quỹ Bảo hiểm y tế. Thực hiện nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, làm hài lòng bệnh nhân Bảo hiểm y tế. Tổ chức phong trào thi đua rộng khắp sớm đạt mục tiêu Bảo hiểm y tế toàn dân tại mỗi đơn vị xã, huyện, tỉnh. Đưa việc khám chữa bệnh dùng thẻ Bảo hiểm y tế về rộng khắp các xã, làng, thôn, bản.

Công tác DS – KHHGĐ: Phấn đấu giữ vững thành quả mức sinh thấp, (dưới mức sinh thay thế). Nhấn mạnh bảo đảm chăm sóc sức khoẻ sinh sản, tránh thai an toàn, làm mẹ an toàn. Cân bằng giới để từng bước nâng cao chất lượng dân số. Tăng cường phối kết hợp liên ngành để xử lý tốt những vấn đề di dân, buôn bán phụ nữ và trẻ em, hôn nhân với người nước ngoài; những vấn đề hôn nhân gia đình trong nước, dân tộc, tôn giáo,…

Coi trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực y tế, vừa có mũi nhọn chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phổ cập. Phấn đấu vào tốp 500 Đại học quốc tế: đến 2015 có ít nhất 1 Đại học Y – Dược; đến 2020 có ít nhất 2 Đại học Y – Dược. Bác sĩ làm việc tại xã: năm 2015 phủ được 80%; năm 2020 phủ khắp 100%.

Phát triển công nghiệp dược, sản xuất trang thiết bị Y tế.

Về công nghiệp dược: phấn đấu tổng giá trị sản xuất so với tổng giá trị thuôc sử dụng: năm 2015 đạt 70 – 75%; năm 2020 đạt 95 – 100%. Có những thương hiệu mạnh dược phẩm xuất khẩu. Thông qua xuất nhập khẩu, thể hiện vai trò công nghiệp và kinh doanh dược bảo đảm thoả mãn nhu cầu thiêu thụ trong nước, (theo các chỉ tiêu tỉ lệ vừa kể trên).

Về sản xuất trang thiết bị y tế: phấn đấu thực hiện các mục tiêu của Chính sách quốc gia về trang thiết bị y tế, ban hành theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 130/2002/QĐ-TTg, ngày 04/10/2002 lui sau 10 năm đến năm 2015 đạt 40%, năm 2020 đạt 60% .

Về quản lý, phấn đấu nâng cao năng lực toàn diện, cả vĩ mô và vi mô. Hoàn thiện pháp luật, chính sách, bảo đảm nhà nước quản lý, tổ chức thực hiện thuận lợi, người dân hài lòng, ngăn chặn tham nhũng, lãng phí. Đối với quản lý vi mô, yêu cầu cán bộ quản lý đơn vị (Bệnh viện, Viện, Trường, …) phải có tín chỉ đào tạo quản lý, mỗi ban quản lý đơn vị phải có ít nhất 1 cán bộ chuyên môn quản lý, với chỉ tiêu: năm 2015 đạt ít nhất 50%; năm 2020 đạt ít nhất 80% . Nghiên cứu, sớm thành lập bộ môn, khoa Quản lý Y tế cấp Đại học, Cao đẳng.

Tăng cường xã hội hóa các hoạt động chăm sóc sức khỏe gắn với tăng cường đầu tư của nhà nước, thực hiện tốt việc trợ giúp cho các đối tượng chính sách và người nghèo trong chăm sóc nâng cao sức khỏe [1].

Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về y tế là một nội dung quan trọng trong đó nhấn mạnh: Đẩy mạnh cải cách hành chính trong ngành y tế; hoàn thiện hệ thống pháp luật về y tế phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, nâng cao năng lực lập kế hoạch và quản lý tài chính trong các lĩnh vực hoạt động của ngành y tế. Thường xuyên theo dõi, giám sát và đánh giá kết quả hoạt động xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch. Phân cấp quản lý rõ ràng cho các tuyến y tế, các địa phương. Tăng cường quản lý chất lượng dịch vụ y tế, quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính của các cơ sở y tế công lập nhằm bảo đảm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động y tế, làm tốt vai trò quản lý nhà nước đối với hệ thống y tế tư nhân. Tăng cường thanh tra, kiểm tra để các cơ sở y tế ngoài công lập hoạt động theo đúng quy định của pháp luật, đặc biệt là quy chế kê đơn và bán thuốc. Khuyến khích các cơ sở y tế ngoài công lập tham gia khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế và hoạt động nhân đạo vì sức khỏe.[24]

3. Phương thức quản lý nhà nước về y tế

Quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về y tế nói riêng phải tuân thủ các nguyên tắc phải tuân thủ các phương pháp của quản lý hành chính hà nước. Trong quản lý nhà nước về y tế phải giải quyết các yêu cầu quan trọng sau :

Đảm bảo nguyên tắc tập chung dân chủ trong công tác quản lý nhà nước về y tế: Quản lý nhà nước về y tế phải có tính tập chung của nhà nước về các vấn đề trọng yếu nhưng không hạn chế quyền chủ động, sáng tạo, năng động, linh hoạt của cấp dưới. Nhà nước không can thiệp sâu vào các tác nghiệp vi mô, tác nghiệp kỹ thuật mà thiết lập các khuôn khổ pháp luật, công cụ quản lý để thúc đẩy sự vận động, hoạt động nhằm đạt được sự hoàn thiện và hiệu quả.

Quản lý nhà nước về y tế trên cơ sở các quy định pháp luật, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội từng thời kỳ theo định hướng xã hội chủ nghĩa: Hệ thống pháp luật định hướng và tạo môi trường cho các thành phần được tham gia cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe nói chung, chăm sóc sức khỏe ban dầu nói riêng….

Quản lý nhà nước về y tế phải đảm bảo tính thống nhất trong cả nước nhưng có sự phân công, phân cấp hợp lý, phối hợp chặt chẽ giữa TW – địa phương – ngành – lãnh thổ đặc biệt cần chú trọng việc phân chia rõ ràng giữa quản lý nhà nước về y tế theo ngành và quản lý nhà nước về y tế theo lãnh thổ để đảm bảo không bỏ sót, không chồng chéo, đồng thời cần tạo điều kiện tham gia của các tổ chức liên quan.

Bộ máy quản lý nhà nước về y tế nói chung và y tế cấp xã nói riêng phải được tổ chức gọn, nhẹ nhưng phải hoạt động có hiệu lực và hiệu quả.

Phương thức quản lý nhà nước về y tế phải được đổi mới theo hướng tăng cường tính pháp chế, tăng cường hội nhập, phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quản lý hiện đại trên thế giới.

Quản lý nhà nước về y tế hiện nay phải trên cơ sở không ngừng ứng dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình quản lý, điều hành hệ thống. Phương thức nhà nước sử dụng để quản lý nhà nước về y tế các cấp cụ thể là :

  • Quản lý bằng pháp luật và chính sách;
  • Quản lý bằng tổ chức bộ máy và cán bộ;
  • Quản lý bằng đầu tư tài chính;
  • Quản lý thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra và đánh giá.

Ngoài ra, để hỗ trợ và giúp đỡ cho các bạn học viên đang làm bài luận văn thạc sĩ ngành quản lý công được tốt hơn, Luận văn Panda có hỗ trợ các bạn bảng giá viết thuê luận văn thạc sĩ, và quy trình làm việc của Luận văn Panda các bạn có nhu cầu tham khảo thì truy cập tại đây nhé.

===>>> DỊCH VỤ VIẾT THUÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Chat Zalo
Chat Facebook
0932091562